Ký Ức Quảng Đà 1954-1975 – P. 1/3 (Kim Chung)

BBT. Nhận được một đóng góp mới của bạn Kim Chung với tựa Ký Ức Quảng Đà 1954-1975… để dễ đọc, xin được phân làm 3 lần Post bài…

Phần 1: Người bộ đội Tây Tiến cuối cùng.

Nghe ca khúc: Tình Em Xứ Quảng (nhạc sĩ sáng tác: Trần Ngọc do ca sĩ Quang Lê trình bày)

Trước 1945 người anh cả của ông Yên tham gia phong trào Việt Minh (VM); sau ngày cướp chính quyền ông làm cán bộ dân vận xã. Cuối năm 1946 Pháp tái chiếm Đông Dương, cán bộ VM đã bị lộ diện nên ông phải trốn ra bưng. Cứ mươi ngày ông bí mật lẻn về nhà lấy gạo muối mà mẹ già đã đùm sẵn, mang đi ăn để hoạt động.

Trong nhà có cái hầm bí mật đã đào từ mấy năm trước; thông từ bụi tre ngoài bờ ruộng vào nhà, có cái bếp đặt bên trên. Tên lý trưởng là tay chỉ điểm số một. Hắn thường xuyên theo dõi nhà ông; biết được mỗi lần bà cụ đi chợ là để chuẩn bị lương thực cho con trai. Thông tin về căn hầm bí mật đã bị tiết lộ do thằng cháu gọi bà bằng cô, mà năm 10 tuổi cha mẹ hắn chết hết bà phải dắt về nuôi. Hôm đó biết có VM trong hầm; tên lý trưởng dẫn đến một trung đội lính Bảo An, bao vây căn nhà khi đã ém sẵn ở miệng hầm ngoài bờ tre; chực ông ló ra là bắn liền. Hắn bắt bà cụ đẩy cái bếp lộ ra cái cửa hầm trong nhà và nói: “Mày ra hàng thì chính phủ sẽ khoan hồng”. Và người anh đã rút chốt lựu đạn tự sát ngay trong hầm.

Cùng bà mẹ; ông Yên chôn cất người anh xong thì cũng vừa tròn 17 tuổi. Một hôm ông ra bờ đê ngoài sông Đáy, chờ đò để qua Sơn Tây có việc thì tên lý trưởng gặp; hắn bắt ông đưa check control (giấy căn cước) cho hắn kiểm tra và giữ luôn giấy tờ, hắn nói: “ba ngày nữa ra đình tao trả”. Việc này đưa vào thế: một phải có tiền chuộc, hai là sẽ bị bắt vì không có giấy tờ tùy thân. Lúc ấy nhà ông Yên nghèo; chỉ 3 sào ruộng (360 m2/một sào) và mươi nong tằm để lấy kén bán cho phường sợi ở làng dệt Vạn Phúc, Hà Đông; làm gì có tiền để chuộc. Bà mẹ nói với ông Yên: “Thôi con tìm đường mà đi, ở lại chúng bắt cũng khổ”.

Đêm ấy bà cụ đã gói sẵn cho ông một bộ áo quần, vài đồng bạc, một đấu gạo, một đùm cơm nguội, một ít muối, cái võng và một cái áo tơi chằm bằng lá gồi, chân trần không dép; ông đội cái nón cời ra đi khi trời đổ mưa.

Ông vào Bộ Đội Tây Tiến (đánh sang Lào). Binh chủng này bán chính quy, bán du kích. Vũ khí chỉ có một con dao găm và lương thực tiếp tế thì đi đến đâu nhờ dân ở đó. Và… chiến lợi phẩm lấy được trong đồn của lính Tây.

Bộ đội Tây Tiến cạo trọc đầu, đêm bò vào đồn, nắm đầu ai có tóc thì đâm rồi lột súng đạn, áo quần, giầy bốt, gạo sữa, v.v…

Bộ đội Tây Tiến chống được Tây nhưng không chống được bệnh sốt rét…

Một năm sau ông Yên lên cơn sốt rét nặng; mặc dù cạo trọc đầu nhưng không có tóc để mọc, rụng luôn cả chân tóc, đầu ông láng bóng như thoa mỡ. Kiệt sức, ông không theo kịp đơn vị, lạc lại phía sau; chờ chết hoặc bị bắt. Ý thức đấu tranh sinh tồn cao; ông trốn vào vườn chuối hoang, lót lòng bằng những quả chuối chín bói, hoặc những quầy chuối chín không ai chặt bị sóc ăn nham nhở; chờ đêm đến tìm đường trở về nhà. Nơi ông đánh giặc cách làng ông gần 20km đường chim bay. Ông về tới làng chỉ còn cách nhà hơn cây số thì gà vừa gáy sáng; giấu súng đạn (lấy được của Tây) vào một bụi tre; cũng may sông Đáy mùa này nước cạn, kiệt sức nhưng ông vượt qua dễ dàng và ôm gói tư trang chui ngay vào cây rơm người ta vừa dựng xong, phía trong dưới chân đê.

Trời đã sáng bửng, tay đồn trưởng dắt con chó Bẹc rê; đằng sau có thằng lính hầu, khoác khẩu Maxtenxit; đi tới. Con chó đánh hơi có mùi lạ, nó kéo chủ chồm tới cây rơm sủa om. Thấy lạ tay đồn trưởng giật cây sung của thằng lính, bật lưỡi lê; đâm loạn xạ vào quanh cây rơm… không có gì hết, bọn họ định kéo đi nhưng con chó cứ cố quay lại, vừa cào vừa sủa; hắn vẹt rơm ra thì thấy loang một vũng máu và cái đầu trọc lóc của ông; ông đã ngất đi: một mũi lưỡi lê đâm trúng vai phải của ông; hắn sai tên lính hầu kéo ông ra; cũng may con chó đã rọ mõm nếu không nó đã cắn nát mặt ông rồi… vừa lúc ấy thì tay đồn phó cũng vừa đi tới và hỏi hắn: “Gì thế sếp?” – “Tôi đâm được thằng VM này”. Số phần thêm một cái may, ông này là bác họ chi trên của ông Yên. Khi nhận ra mặt đứa cháu, sờ vào ngực thấy tim còn đập; ông nói với tay đồn trưởng: “Nó chết rồi, sếp để tôi chôn cái xác này cho”; bọn chúng kéo đi. Ông nhờ hai người nông dân đi làm đồng sớm làm cáng khiêng ông về nhà… Bà mẹ lau rửa, băng bó vết thương, đút cháo chạy thuốc cho ông được 3 tháng thì dần được hồi phục. Khi sắp thuyên chuyển đi nơi khác; ông bác họ tới nhà nói với ông Yên: “Bây giờ đã khỏe rồi; mày có quay lại theo VM thì mày cũng chết, ở nhà thì làng lý nó tới bắt cũng chết. Thôi theo tao ra Hà Đông đăng lính gác cầu đi”. Và ông Yên theo ông bác họ đăng vào tiểu đoàn 705 khinh quân. Ông đổi tên thành Lượng.

Năm 1949 khi đơn vị này đang sửa chữa cầu Sông Bôi, gần Chi Nê, Lạc Thủy, Hòa Bình; thì Đại úy Nguyễn Văn Tín (quê gốc Quế Sơn, Quảng Nam), tiểu đoàn trưởng; đi thị sát. Đêm đó VM kéo tới đánh đồn; rất rát. Ông Lượng cõng ông Tín băng đồng chạy trốn mới thoát khỏi bị bắt. Sau việc này ông Tín nhận ông Lượng làm con nuôi kiêm tùy phái để chạy công văn. Đến 1951 ông Tín đại diện đi hỏi vợ cho ông Lượng (vợ ông là em vợ ông Đặng Mai. (xin truy cập: Nổi loạn quân y viện Nha Trang năm 1970). Năm 1952 bộ chỉ huy liên đoàn 7 khinh quân di chuyển vào Quảng Đà; phụ trách xây dựng trường Phan Chu Trinh Đà Nẵng, trường Trần Quý Cáp Hội An, cầu Câu Lâu, cầu Bà Rén, cầu Hương An, cầu Trà Khúc, cầu Sông Vệ. Đầu tiên Bộ Chỉ Huy đóng ở khu Tạo Tác đường Nguyễn Trường Tộ Đà Nẵng, sau dời vào Hội An đóng ở trại Trần Nhật Duật đối diện trường Trần Quý Cáp. Sau 1954 lực lượng khinh quân ở Quảng Đà được đổi thành Liên Đoàn 7 Công Binh Kiến Tạo và Liên Đoàn 10 Công Binh Chiến Đấu. Ông Tín lên Trung tá Liên đoàn trưởng Liên đoàn 7 vì có bằng kỹ sư (Cùng thời với ông Trần Đại Nghĩa). Ông đề bạt cho con nuôi ông và ông Hoàng Đình Thọ đi học sĩ quan nhưng ông Lượng không đi; xin giải ngũ ra “civil” làm nghề “bảy đốp” (bảy đáp: đồ tể” ở Hội An, ông đã bị cảnh sát Hội An bắt bỏ tù 3 tháng vì tội làm thịt heo lậu). Năm 1959 ông Lượng lên Trà Mi buôn lá dong, chuối quầy; có gặp lại ông Thọ lúc này là Trung úy quận trưởng quận Trà Mi. Năm 1970 ông Thọ lên trung tá tỉnh trưởng tỉnh Quảng Tín và sau đó bị bộ đội Cộng Sản bắt ở đèo Măng Đen, giải ra Bắc; đến 1973 mới được trao trả tù binh theo hiệp định Paris.

Sau vụ tướng Cao Đài Trịnh Minh Thế bị ám sát; chính quyền ông Ngô Đình Diệm buộc các sĩ quan Cao Đài phải giải ngũ. Ông Tín rời quân đội; mua miếng đất ở góc đường Đông Kinh Nghĩa Thục và Thống Nhất. Xây Thánh Thất Cao Đài Đà Nẵng; ông nguyên là tín đồ đạo Cao Đài, chức danh Phối Sư Ngọc Tín Thanh. Năm 1958 ông Lượng chở thằng Trung con đầu của ông đi xe đò Renaut (hình thù giống con heo) ra Đà Nẵng thăm bố nuôi, ông nội nuôi; thì công trình này đang đào móng thi công.

Xin xem tiếp Phần 2

Kim Chung cựu học sinh Đà Nẵng 66-73

About motthoi6673pctdn

nơi gặp gỡ của các chs nk 6673 pctdn và thân hữu
Bài này đã được đăng trong Ký Ức. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s