Những tháng năm không thể nào quên… P. 1/2 (Mai Chung)

ntnktnq1LTG: Bài viết nầy có thể coi như một tạp ký, nhớ tới đâu viết tới đó, không sắp xếp, không tham khảo, cũng không phỏng vấn, hay tìm hiểu một ai. Tôi ghi lại những thời điểm đáng nhớ trong cuộc đời mình như một kỷ niệm. Một kỷ niệm không đánh bóng, không hư cấu. Để nhẹ nhàng hơn tôi gọi phía đối đầu là địch, không dùng chữ VC, hay CS… Tôi không mở rộng phê phán về bất cứ chủ thuyết nào. Khi tái tạo hồi ức, những cảm xúc về một vùng đất, về con người. Quá khứ lại hiện về với khoảng không gian thời chinh chiến cũ, khét nghẹt mùi thuốc súng, mùi của những đám cháy, mùi chua chua cuả ai đó sau nhiều ngày không tắm gội… Cũng may, ký ức còn bóng láng không có chút lu mờ. Trong nỗi tiếc nuối khôn cùng, xin mời các bạn hãy cùng tôi làm một cuộc hành trình trở về miền quê hương yêu dấu. Hãy cùng đi với tôi qua “Những tháng năm không thể nào quên”. MC

Những tháng năm không thể nào quên

… tháng ba năm 1973

Sau khi mãn khoá 1 phân chi khu, tại Trung tâm Huấn luyên QG Chi Lăng ở Châu Đốc, tôi nhận được lệnh về thành lập phân chi khu Thái Trị, thuộc chi khu Tuyên Bình, tỉnh Kiến Tường. Cùng về với tôi có Trung uý Nguyễn H T. phân chi khu trưởng, thêm thượng sĩ V. hạ sĩ quan an ninh và trung sĩ Điền hạ sĩ quan quân số, tiếp liệu.

Tôi quảy ba-lô, súng đạn về đơn vị mới mà trong lòng lo lắng, xót xa. Xót xa vì không vi, không cánh, không bà con quen biết nên phải về cái xã đìu hiu hút gió nằm sâu trong biên giới Campuchia. Xã Thái Trị thuộc loai xã hạng C, nghĩa là mất an ninh, xôi đậu, ban ngày ta kiểm soát còn ban đêm thì địch bò về hội họp, kinh tài. Xã Thái Trị là một khu dinh điền, được xây dựng từ thời TT. Ngô Đình Diệm, nằm sát biên giới Campuchia, là xã xa nhất, heo hút, nằm về hướng tây bắc của thị xã Kiến Tường, trên thượng nguồn con sông Vàm Cỏ Tây, cách xa quận châu thành Mộc Hoá trên 30 km. Phương tiện tiếp vận chủ yếu là những chiếc tắc rán và đường bộ về chi khu chừng 8 km. Nay thuộc huyện Vĩnh Hưng.

Như là một định mệnh, thôi phần số đã an bài. Tôi nghĩ thế. Sống chết có số. Khi rời đơn vị cũ là Đại đội 3/TĐ502 về đây làm phó xã trưởng an ninh, tâm trạng tôi luôn luôn hoang man, lo sợ. Ông Trung uý T. chắc không hợp thổ nhưỡng, chân tay bị lạnh nên chỉ ở tiền đồn Thái Trị chừng hai tuần lễ là biến đâu mất tiêu, không thấy ông ta trở lại. Hồi tưởng lại những ngày đầu tiên bước chân về đó, đón tôi là tấm lòng nhiệt tình của mọi người, ai ai cũng tỏ ra hân hoan, quý trọng. Đặc biệt khi họ biết tôi gốc là người miền Trung, là đồng hương, họ chào đón tôi như người thân đi xa mới về. Họ là ai? Họ là những người nông dân di cư từ những vùng Thường Đức, Đức Dục, Đại Lộc, Quế Sơn… ở tận miền Trung xa xôi, thuộc tỉnh Quảng Nam vào đây lập nghiệp. Chính những sợi dây tình cảm vô hình đó từng ngày, từng ngày đã níu chân tôi với mảnh đất nầy và với thân tình mà đồng bào tại đây dành cho tôi. Tôi là một sĩ quan trừ bị đầu tiên và cũng là người cuối cùng về làm việc tại xã Thái Trị cho đến năm 1975.

Qua năm tháng tôi cảm thấy yêu nơi nầy hơn tôi tưởng. Vùng đất với hai mùa nước nổi, nước ròng. Lẳng lặng, có những buổi chiều nắng nhạt, nhìn trời đất bao la. Cánh đồng đất khô cằn trải dài đến tận sóc Ba-giáp, nơi có hàng thốt nốt, thuộc tỉnh Kampon Cham, Campuchia. Chênh chếch về hướng tây, xa xa là ngọn núi Bà Đen, thuộc tỉnh Tây Ninh mờ mờ ẩn hiện trong áng mây chiều phiêu lãng… Biên giới, ơi biên giới! Nơi đây không có núi non, sông, suối hay cột mốc để phân định, là một loại hình biên giới phỏng định. Cả một vùng biên giới phía tây nam của đất nước là như vậy, nhiều khi không biết mình có vi phạm chủ quyền hay không. Đứng trên lằn chỉ đỏ trên bản đồ, chỉ ranh giới giữa Việt Nam và nước bạn, một cảm giác miên man lại hiện về. Nơi đây, mảnh đất nầy, ông cha ta đã bỏ bao lao nhọc tạo dựng cơ đồ. Cũng có thể nơi đây đã là một chiến địa hoang tàn. Rải rác trên cánh đồng khô nức đất còn lưu lại những ngôi mộ cổ… Một trận điạ oai hùng để có ngày hôm nay. Đứng nhìn trời đất bao la, có ai nghĩ được bây giờ đây, tôi làm người lính trấn biên. Đứng nhìn trời, gác tay lên báng súng mà lòng chùng xuống. Hoài niệm về một quá khứ oai hùng đã qua đi hay suy tư về một tương lai đầy hiểm nguy, gian khổ đang chờ đợi. Nỗi lòng của người trấn thủ biên cương sao nghe trong lòng nặng trĩu ngàn cân. Bên kia sông, xa xa từng đàn cò trắng sải cánh bay về. Những sợi nắng yếu ớt trườn mình ra khỏi đám mây trắng đục cuối chân trời. Buổi chiều xuống chậm.

Bên thượng nguồn dòng sông Vàm Cỏ Tây hiền lành, những mái nhà tranh như e lệ ẩn mình sau những rặng tre làng nhả khói lam chiều. Trên bầu trời trong xanh thăm thẳm là những cánh chim cò, vạt và đặc biệt là từng đàn vịt trời bay về nơi trú ngụ sau một ngày tất bật nơi cánh đồng xa. Chúng bay từng đàn, rồi từng đàn nhiều vô số kể, bay rợp trời, xào xạt, khuấy động không gian, báo hiệu cho sự tàn lụi của một ngày. Hoàng hôn chụp xuống thật nhanh tự bao giờ. Một ngày yên bình trên tiền đồn Thái Trị.

…tháng 4 năm 1974.

Không gì vui sướng và hạnh phúc bằng khi có người yêu là một cô con gái tuổi học trò đến thăm người yêu là một anh lính trận, nơi tiền đồn biên giới xa xăm. Tôi có được những giây phút đó, khi ML. ngồi tắc-rán hơn nửa ngày trời, từ Mộc Hoá đến Thái Trị thăm tôi. Hơn xế trưa một chút, tôi hớn hở cùng với một đám anh em xuống bến tàu đón người yêu. Bến tàu là cây cầu làm bằng xi-măng nhô ra từ bờ chừng vài mét. Nhìn những người khách đang lom khom bước lên bờ, tôi nhìn nàng xinh xắn lạ thường với chiếc áo sơ-mi ngắn tay màu trắng. Trong thời chiến, chúng tôi tìm đến với nhau trong ngập ngừng bối rối. Tôi bắt gặp ánh mắt của nàng. Ánh mắt như chực khóc, giọt nước mắt ngập ngừng run rẩy còn đọng lại trên hàng mi. Ánh mắt ấy đã theo tôi qua bao năm tháng nổi trôi. Thật là một bất hạnh cho tôi, mãi đến bây giờ, tôi vẫn chưa bắt gặp ánh mắt như thế một lần nào nữa. Trong không khí tràn ngập nhớ thương, thuơng nhớ, ML, nàng như con mèo nhỏ ngây ngất trong vòng tay ôm của tôi. Nàng không nói được một lời nào. Hai dòng nước mắt tuôn trào trên đôi gò má như thay lời bao nỗi niềm thương nhớ bị đè nén bấy lâu. Chúng tôi trao cho nhau những yêu thương nồng cháy sau bao ngày xa cách. Nàng, con mèo nhỏ, quanh quẩn, chui rúc bên tôi và tôi là một sĩ quan chỉ huy trách nhiệm bảo vệ tiền đồn và bảo đảm an ninh cho đồng bào trong xã.

Đêm gần như dài vô tận. Bóng đêm dày đặc, âm u, cơn mưa phùn ươn ướt lạnh lẽo. Những người lính trùm pon-cho loại áo mưa của lính, hoàn toàn im lặng, họ đi đi lại lại trên bờ thành như những ma, đêm của địa ngục. Tôi lẵng lặng đi coi lại hệ thống phòng thủ và đốc canh. Trong không khí căng thẳng, cân nhắc mọi hoạt động nhưng tôi vẫn nhận được những ánh mắt, nụ cười. Một thứ tình cảm không tên gọi dâng lên tràn ngập trong hồn tôi. Tôi thương những người lính trấn biên như thương chính bản thân mình. Tôi biết bây giờ, hôm nay hay ngày mai, các anh em và tôi phải giành lại sự sống cho chính bản thân mình. Tâm tư ngổn ngang một mớ. Các anh nghĩ gì hỡi những người lính tại tiền đồn Thái Trị.

Qua nửa đêm một chút. Hai tiếng nổ long trời, tia chớp như xé toạc màn đêm. Hai trái mìn claymore gài tự động phát nổ liên tiếp. Đặc công đã cắt bờ rào bò vô gần tới bờ thành. Mọi người trong tư thế chiến đấu. Súng nổ, đạn bay, tiếng hét, tiếng la, những âm thanh vang vọng trong bóng đêm phủ đầy chết chóc. Thật khủng khiếp, kinh hoàng. Con mèo nhỏ đầu đội nón sắt, mặc chiếc áo giáp cuộn mình trong góc hầm. Căn hầm chỉ huy như muốn bật tung lên sau mỗi tiếng nổ.

Ngày ngủ đêm thức, trong tâm trạng lo lắng, bồn chồn, run sợ. Nhìn con mèo nhỏ luôn quanh quẩn bên tôi, con mèo vô tư ngụp lặn trong yêu thương hạnh phúc thật mong manh. Con mèo qua lại, tới lui trong căn hầm chỉ huy mà diện tích chỉ bằng chiếc chiếu. Mèo nấu những bữa cơm vội vã, luộc rau trong chiếc nón sắt ngã nghiêng nhưng trong đáy mắt là sự rộn rã niềm hạnh phúc vô biên.

Chung quanh tôi là mùi thuốc súng khét nghẹt. Tôi đứng dậy để bò ra ngoài, nhưng bị khụy xuống ngay, cố gắng đứng dậy lần nữa, vẫn không được, tưởng đâu bị tê chân, tôi cúi đầu nhin xuống thấy máu đã chảy lênh láng trong chiếc giày. Cảm giác ươn ướt, nhày nhụa. Tôi đã bị thương ở chân trái lúc nào không hay biết, chân gần như tê dại, tôi lo lắng, khi cố hết sức để đứng dậy, nhưng vô hiệu, nhìn thấy một lổ thủng trên ống quần, có lẽ bị một cái miễng đạn 75 ly không giật ghim phải. Trong bóng đêm lờ mờ, mèo vụng về run rẩy xé ống quần tìm vết thương nơi chân tôi để cầm máu. Tôi quàng tay qua bờ vai của mèo con, bờ vai rung lên từng chặp. Tôi vuốt tóc mèo, nâng khuôn mặt ướt nhoà nước mắt. Nàng nghiêng đầu úp mặt vào ngực tôi, thổn thức. Tôi gọi thượng sĩ V. vào để bàn kế hoạch mới. Để không làm giao động tinh thần chiến đấu của anh em, tin tôi bị thương không được tiết lộ. Bên ngoài tiếng súng vẫn từng chặp đua nhau nổ. Tôi trải tấm bản đồ trước mặt, ánh đèn pin nghiêng ngã, chao đảo. Tôi hồi hộp, cẩn thận chấm tọa độ ngay vị trí của mình. Kế hoạch cuối cùng tôi sẽ gọi pháo binh bắn phủ đầu bằng đạn CVT là loại đạn pháo nổ chụp, nhiều miễng, phát nổ ngay trên đầu mình. Rất nguy hiểm, dùng trong trường hợp bị tràn ngập biển người. Tôi nghĩ đến bắn tiêu huỷ căn cứ khi địch tràn vào. Trong không khí cực kỳ giao động đó, tôi đưa tay bóp nhẹ vào vai mèo, tay nâng khuôn mặt đẹp tuyệt vời, một lần nữa tôi nhìn sâu vào đôi mắt còn sũng nước, trong lòng dậy lên một cảm xúc thật mảnh liệt. Lồng ngực như có nghìn tảng đá đè nặng, hơi thở nặng nề. Ánh mắt đầy thương cảm. […còn tiếp]

Mai Chung

About motthoi6673pctdn

nơi gặp gỡ của các chs nk 6673 pctdn và thân hữu
Bài này đã được đăng trong Ký Ức. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s