Cảnh cũ Trường xưa, luống đoạn … trường (TTKC)

BBT: BBT nhận được bài ký sự “Cảnh cũ trường xưa, luống đoạn… trường” của một thân hữu nguyên là cựu học sinh liên trường Hội An – Đà Nẵng, bút danh TTKC dưới đây như một đóng góp mới vào Blog.

***

TruongBBTD_Blog1Ngày 28/8/2014 tôi từ Rừng Lá; đưa đứa con gái út (19t) vào nhập học năm thứ nhất trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM tại Thủ Đức. Nơi đó trước năm 1975 là nhà máy nước; vẫn còn tháp nước hình “Linh Ga” đứng ở đó: sừng sững, ngạo nghễ, trơ gan cùng tuế nguyệt.

Sau khi hỏi một chỗ cho cháu ở ký túc xá trong trường nhưng đã hết; họ cho biết trường mới xây xong một KTX mới, với hơn 2000 phòng ở đồi Tăng Nhơn Phú, trên nền đất cũ của trường Bộ Binh Thủ Đức; nơi mà trước đây đúng 41 năm (1973); tôi đã được vào đây theo học khóa sĩ quan trừ bị-chín tháng-để ra lính tác chiến.

Sẵn dịp đi tìm KTX cho cháu, tôi cũng muốn trở về thăm lại “ngôi trường cũ”.

BBTD_CongSo_9Từ ngã tư Thủ Đức tới trường cũng hơn 2 cây số; bây giờ người xe nhộn nhịp, phố xá buôn bán sầm uất. Qua chợ “Nhỏ”; phía trong; người ta đã sửa sang gọn gàng, chỉ còn cái cổng chợ vẫn mấy chữ đắp nổi: “Chợ Hiệp Phước” đã phủ rêu phong xám xịt (chắc có lẽ họ chừa lại để làm di tích).

Trường Sĩ Quan Cảnh Sát cũ, đã mới xây lại thành “Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị” quận 9, hướng cổng ra đường chính.

Đứng trước chân đồi (nay không còn cổng) là khoảng đất trống xoai xoải dốc lên, tôi vẫn còn hình dung tấm bảng chữ nổi “Trường Bộ Binh” với phù điêu thanh kiếm trui trên ngọn lửa có chữ “Cư An Tư Nguy” (*), phía sau bảng, trước là khu tiếp tân nay đã rậm rạp vì cỏ dại và rác rưởi. Những cây Lim Xẹt đã bị cưa mất từ lâu; phía bên trái trước kia là “nhà đèn” (trạm biến thế đúng hơn), nay họ đã phá bỏ, xây lại thành “bệnh viện đa khoa quận 9”; bệnh nhân ra vào nhộn nhịp.

Con đường chính từ cổng trường (cổng số 1?) chạy qua cổng sau (cổng số 9) nay có tên là đường Lê Văn Việt. Tháp nước cũ có từ thời Pháp vẫn còn ở đó và có tên là “di tích bót nhà thép” (?); quanh đó là “văn phòng giải quyết bồi thường giải tỏa mặt bằng” (?). Bên trong tháp nước trước kia là kho vũ khí và ban quân xa; những cây dương liễu hồi đó chỉ bằng thùng gánh nước 20 lít, nay đã to bằng cái thùng phi; cũng có vẻ còn xanh tươi. Bên trái không còn dấu vết của “trường Cây Mai” và “Vũ Đình Trường”. Thay vào đó là nhà cửa dân chúng ở san sát, chật chội. Khu hành chánh của TBB vẫn còn mấy chục cây lim xẹt, nay trở thành khu giảng đường cơ sở 2 Trường ĐH Giao thông Vận tải TP.HCM. Đi tới một khúc, khu “Nhà Bàn” bây giờ đã hoang phế, cũ rich, chỉ còn 2 cái nhà lồng; biến thành nhà chứa đồ phế thải và xưởng sửa chữa cơ điện: nhớp nhúa, bẩn thỉu “Dinh ông Tướng” biến thành chỗ ở tập thể cho công nhân viên trường GTVT; tường vôi loang lổ như hình những bức ảnh đen trắng đã ố màu bởi nắng mưa và thời gian. Khu vực “Tiểu đoàn 4”, người ta đã xây lên cái building KTX cao 6-7 tầng quét vôi màu xanh lơ rộng rãi khang trang: nơi mà tôi phải đến để tham quan, tìm hiểu. “Khu gia binh” của “lính cơ hữu”, trước – bạn bè chúng tôi thường đến ăn uống giải trí, mua sắm lặt vặt; nay là những cửa hàng tư nhân buôn bán đủ thứ và quán ăn giá rẻ cho sinh viên; không còn bóng mát của những cây lim xẹt và tràm bông vàng. Tôi không có thời gian để tới khu vực “tiểu đoàn 2” và “khu thiết giáp” cũng như khu “Câu lạc bộ” mà trước kia bà “vợ bốn” vóc người đẫy đà, trắng trẻo của tướng “Lam Sơn” (*) đấu thầu để bán hủ tíu, cơm sườn, nước ngọt… cùng hai cô con gái sinh đôi trắng bóc, giống nhau như hai giọt… nước, lúc đó khoảng 16-17 tuổi; giúp mẹ phục vụ ở đó. Tôi chỉ có đủ thời gian quay trở lại cồng chính đi theo con đường dọc “tuyến D” để thăm lại khu vực “tiểu đoàn 3” của tôi và khu “pháo 105 li”. Nay không còn dấu vết gì nữa; nhà dân ở chật chội, hai bên đường là những bãi rác lớn và cỏ dại mọc đầy. Khu “phát lương” chỉ còn vài cây vú sữa cằn cỗi nay trở thành xưởng ván gỗ đúc. Ngôi nhà tiền chế lớn (gần khu “bộ binh cao cấp”) bị đạn pháo kích bỏ hoang ở đó; nay người ta đã giỡ ra làm kho chứa hàng có vẻ nhỏ hơn rất nhiều. Đồi Tăng Nhơn Phú không còn hàng rào; khu quân sự trước kia ngăn nắp, uy nghiêm nay đã trở thành khu dân cư xô bồ, nhộn nhịp và chật chội… Tất cả đã thay đổi sau cuộc tan hàng ngày 30/4/1975.

Trước khi rời ngôi trường cũ; tôi đi suốt con đường chính một lần nữa, qua cổng 9 xuống cầu Bến Nọc; thì người ta đã làm một con đường vắt qua trên đầu đi vào khu công nghiệp “Giồng Ông Tố”. Tôi trở về nhà mang theo một tâm trạng bùi ngùi; nghĩ tới những giọt mồ hôi (và cả nước mắt) của mình đã đổ ra ở đó nay đã hoàn toàn vô nghĩa. Tôi chợt nhớ tới thằng bạn cùng lớp Võ Tân, trình diện trước một khóa (7/73); ra trường trước một tháng, về tiểu khu Quảng Ngãi. Ngày ra trường, tôi ôm sắc maren vừa về tới nhà, thì đám tang của Tân đi ngang trước cổng nhà… “cố thiếu úy…”. Tôi chợt nhớ tới thủ khoa Huỳnh Lễ, trung sĩ cựu quân nhân, lúc đó 28 tuổi, có 10 năm tác chiến trong binh chủng thiết giáp; đã tử trận tại tiền đồn Cồn Khe (thuộc đặc khu Đà Nẵng) ngoại biên xã Hòa Long; cách Cồn Chùa (đồn Phong Hồ) nơi tôi đóng quân 2 km đường chim bay; sau lễ mãn khóa đúng 21 ngày. Tôi chợt nhớ tới thằng bạn Trần Chuẩn cùng trường ở nam tiểu học Hội An; con bác Trần Tiêu (không phải tác giả truyện ngắn Con trâu) chủ tiệm café Tiêu ở bến xe cũ Hội An. Ra trường Chuẩn về tiểu khu Gò Công. Sau 1975, Chuẩn cùng hai thằng em trai đi vùng kinh tế mới ở Bà Rịa Vũng Tàu; có người bạn liên lạc được chuyến vượt biên với lộ phí 1 chỉ vàng 1 người. Ba anh em Chuẩn lên tàu mà chưa chuẩn bị được số tiền đó; đã bị bọn (hải khấu?) tổ chức vượt biên để thu vàng-xô xuống biển. Sau một tháng người bạn từ đảo GaLăng điện về cho bác Tiêu. Bác từ Hội An vào BR-VT tới rẫy của ba đứa con, vào chòi thấy vẫn còn mùng mền chăn chiếu, gạo mắm chén đũa vứt lềnh khênh ở đó, và cả ba chiếc xe đạp thồ với cưa búa dao, rựa… Bác gạt nước mắt, chất lại một đống rồi đốt đi. Trở về nhà được 3 tháng thì bác mất.

Xin kể lại với các bạn cuộc hành trình về thăm trường cũ của tôi. Và những ký ức đau buồn từ sau 75 đến nay.

TTKC – 28/4/2015

Ph Chú trích từ Net:

(*) Phương châm Cư An Tư Nguy trong phù-hiệu Trường Sĩ-quan Trừ-bị Thủ-Đức, với: Nền xanh da trời biểu-hiện sự thanh-khiết từ tư-tưởng đến hành-động, và ý-chí cao-cả của thanh-niên đối với quê-hương. Ngọn lửa hồng biểu-hiện lòng dũng-cảm, chí cương-quyết, đức hy-sinh. Thanh kiếm biểu hiện cho cấp chỉ-huy. Và có nghĩa: “sống yên (không quên) lo nguy”, “muốn sống yên ổn thì phải nghĩ đến lúc hiểm nguy”. Suy rộng ra: “Muốn hoà bình phải chuẩn bị chiến tranh” do sáng kiến của Đại tá Phan Đình Thứ (tự Lam Sơn) đương nhiệm Chỉ huy trưởng của Trường năm 1962. Và câu này trích từ Hệ từ hạ của Khổng Tử:

Nguy giả an kỳ vĩ giả dã
Vong giả bảo kỳ tồn giả dã
Loạn giả hữu kỳ trị giả dã
Thị cố quân-tử an nhi bất vong nguy,
tồn nhi bất vong vong
Tri nhi bất vong loạn
Thị dĩ nhân an nhi quốc gia khả bảo gia.

Dịch nghĩa:
Người bị nguy là bởi cứ yên vui nơi ngôi phận mình
Bị mất là bởi chỉ tới cái hiện có
Bị loạn bởi tin cậy cái trị có sẵn,
Bởi thế, người quân-tử lúc sống yên không quên cái nguy,
còn không quên lúc mất
Khi thịnh-trị không quyên cảnh loạn suy,
như vậy mới yên thân mà giữ được nước nhà.

Câu từ dài ấy được rút lại còn 8 chữ: “Cư an lự nguy, xử trị tư loạn” và gọn hơn nữa với 4 chữ: “CƯ AN TƯ NGUY”.

(*) Lam Sơn Phan Đình Thứ nguyên Chỉ huy Trưởng Trường Sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức từ năm 1962 đến năm 1964. Ông sinh ngày 22.4.1916 tại Hà Tĩnh, lớn lên tại Huế và mất vào ngày 23.7.2002 tại Sài Gòn.

About motthoi6673pctdn

nơi gặp gỡ của các chs nk 6673 pctdn và thân hữu
Bài này đã được đăng trong Ký Ức. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s