Tưởng Nhớ Thầy Trần Đại Tăng – Phần 2/10 – Một Đời Thầy Đất Quảng (Trần Hoan Trinh) (1/4)

BBT: Lần này xin trích đăng bài ” Một Đời Thầy Đất Quảng (Trần Hoan Trinh)” và bài được chia làm 4 phần.

***
Một Đời Thầy Đất Quảng (Trần Hoan Trinh) – Phần 1/4

* Viết nhân Kỷ Niệm 60 năm thành lập trường Phan Châu Trinh

MotThoiPCT_02ACầm Sự Vụ Lệnh bổ nhiệm trong tay, tôi leo lên chuyến tàu hỏa tốc hành Sài Gòn – Huế đến trường trung học Phan Châu Trinh – Đà Nẵng nhận việc.

Một đêm tháng 9 năm 1958. Mưa gió suốt cuộc hành trình. Miền Trung đang có bão. Chiếc tàu chạy ỳ à ỳ ạch qua những cánh đồng bao la nước, qua những cánh rừng ướt đẫm mưa, qua những con sông nước tràn lan lấp loáng bờ. Xa xa bên dưới, biển động ầm ầm, sóng vỗ trắng xóa. Đến Quảng Ngãi vào tối mịt ngày hôm sau, tàu không thể chạy tiếp nữa. Nhiều đoạn đường sắt đã chìm hẳn trong nước…

Tôi bỏ tàu, leo lên một chiếc xe hàng đầy ứ khách đi tiếp. Chiếc xe phủ bạt kín mít, lăn đi trong mưa, trong đêm tối om. Tôi ngồi khuất một góc sâu trong xe, chỉ nghe tiếng mưa rơi ào ạt và tiếng người phụ xe thỉnh thoảng gọi tên những địa danh xe sắp đến. Xe vào bến Đà Nẵng giữa khuya. Bến xe vắng ngắt, lác đác vài quán ăn còn mở cửa, đèn mờ leo lét.

Bến xe Đà Nẵng lúc đó còn nằm trên đường Hùng Vương, cạnh Chợ Cồn, vị trí bây giờ là Siêu Thị BIG C. Xách chiếc vali trên tay, tôi đặt bước chân đầu tiên của mình xuống thành phố Đà Nẵng. Thành phố này hoàn toàn xa lạ với tôi, tôi chưa hề đến đây lần nào, và cũng chẳng có thân thích, bà con nào ở đây cả. Đường sá vắng hiu, buồn tênh, mặt đường ướt át, đầy xác lá và cành cây gãy, sau cơn bão. Tôi ngơ ngác nhìn quanh nơi mình sẽ sống, nơi mình chập chững những bước đầu tiên vào đời. Xa lạ. Bỡ ngỡ. Thích thú. Lúc bấy giờ, được bổ nhiệm về Đà Nẵng xem như bị đi đày. Đà Nẵng lúc đó còn nhỏ, nhỏ lắm, nhỏ hơn Huế, Nha Trang nhiều. Tôi vẫn đinh ninh trong lòng: thôi cứ dạy ở đây vài năm, sẽ tìm cách đổi về Huế, quê hương của mình, hay Sài Gòn, nơi mình mới khăn gói ra đi. Thế mà tôi đã ở đây cả cuộc đời ! Thế mà tôi đã dạy riêng tại Phan Châu Trinh, Đà Nẵng 40 năm đăng đẳng !

Âu là nghiệp dĩ ! Những năm tháng ngày tàn bóng xế, lạc lõng xa lạ giữa thành phố này, bị lãng quên giữa thành phố này, những sớm, rất sớm, một mình đếm từng bước lang thang trên con đường bờ sông Bạch Đằng hay trên con đường dọc bãi biển Thanh Bình, để tập thể dục, nhưng dụng ý chính là tìm chút thoải mái, thanh thoát cho tâm hồn, đã nhiều lần tôi tự hỏi mình: quyết định của tôi để cả một cuộc đời ở Đà Nẵng này là Đúng hay Sai ! ? Làm thầy một đời ở Đất Quảng này của tôi tựu trung là thành công hay thất bại ? ! Để rồi hồn bâng khuâng, buồn vô hạn !

Thời gian học Trung học, tôi đã nuôi mộng sau này theo nghề dạy, nhưng theo một hướng khác. Thế mà dòng đời đưa đẩy, tôi lại vào nghiệp dạy theo một hướng khác, chính quy luôn !

Thuở ấy, đậu xong Tú Tài 2, muốn học lên nữa thì phải vào tận Sài Gòn thôi. Các trường Đại học khác (Huế, Đà Lạt, …) mãi đến sau năm 1958 mới được thành lập. Thuở tiểu học, tôi học tại trường Thế Dạ. Thuở trung học, tôi học Đệ nhất cấp tại trường Pellerin, Huế. Năm Đệ Tam (lớp 10), tôi học tại trường Tư Thục Nguyễn Du, Huế, mới thành lập, tọa lạc trên đường Hàng Đường, cạnh chân cầu Đông Ba. Tôi học Đệ Nhị, Đệ Nhất (lớp 11, 12) tại trường Khải Định. Lúc bấy giờ trường Khải Định còn học chung với trường con gái Đồng Khánh, dãy lầu phía bên phải, vì cơ sở trường còn bị Pháp chiếm làm trại lính. Đến cuối năm Đệ Nhất, trường Khải Định mới được Pháp trao trả cho Việt Nam, chúng tôi khiên bàn, khiên ghế, khiên bảng đen, bục giảng, … về học tại trường của mình. Cũng cuối năm đó, trường được đổi tên là Quốc Học Ngô Đình Diệm (từ năm sau chỉ gọi là Quốc Học Huế). Tôi học lớp Đệ Nhất B3. Thầy dạy Toán của tôi năm này là thầy N. V. H., vị thầy thần tượng của tôi lúc đó. Thầy làm Hiệu Trưởng nên chỉ dạy một mình lớp tôi thôi. Nhìn chữ ký lả lướt của thầy, dưới triện son đỏ chói của trường, dưới hàng chữ Hiệu Trưởng, Giáo Sư Cử Nhân Giáo Khoa, là tôi mê tít ! Một kỷ niệm mà tôi nhớ mãi về thầy: chiều hôm đó, thầy có 3 giờ Toán liên tiếp tại lớp tôi. Chắc bận việc gì đó, đầu giờ thầy vào lớp và ra một đề toán bắt chúng tôi giải trên giấy, cuối giờ nộp, rồi bỏ đi đâu mất ! Ngồi nắn óc bóp trán làm mãi không ra, mặc dù chúng tôi đã tụ năm tụ bảy cùng ngồi làm chung để suy nghĩ cách giải. Cuối giờ, thầy vào lớp, chúng tôi phản ảnh lại, chịu không ai giải được cả, thầy cầm đề tóan lên xem một hồi, rồi bật cười ha hả, giơ cả răng cả lợi: bây ngu quá, đề tau ra thiếu mà cũng làm, ha ha ! Mất toi 3 giờ toán lại còn bị mắng là ngu, nhưng cũng đành chịu ! Giữa năm học, thầy không còn dạy Toán cho lớp tôi nữa. Thầy quay qua hoạt động chính trị và chuyển hoàn toàn lên Đại Học. Lòng tôi vẫn ao ước sau này học hành sao cho ra trường giống thầy: đỗ Cử nhân Giáo khoa Toán rồi về Huế dạy ! Do đó, đỗ xong Tú Tài 2, theo rũ rê của người bạn thân, tôi bay vào Sài Gòn, ghi tên ngay vào học tại Faculté de Sciences (Đại học Khoa học), mặc dù trong túi chỉ có vài chục đồng ! Người bạn tôi bảo phải vào sớm, đến dự thính các lớp đang học để nghe tiếng Pháp cho quen (lúc đó trường còn dạy bằng tiếng Pháp), vào năm học chính thức mới theo kịp để ghi bài. Anh bảo đảm vào đó sẽ giới thiệu chỗ dạy kèm dạy thêm, đủ chi phí để ăn học. Loay hoay tìm kiếm chỗ dạy thêm chẳng ai nhận, chắc là thấy tôi còn bé con quá ! Tiền sắp cạn, đang lúng túng không biết làm sao ! Một hôm đi ngang qua trường Cao Đẳng Sư Phạm Sài Gòn (Normale Supérieure de Pédagogie), thấy thông báo tuyển sinh, tôi ghi tên dự thi, định bụng học thêm tại đây để lấy học bỗng. Học bỗng của trường Sư phạm này khá lớn, gần bằng lương của một công chức bậc trung hồi ấy ! Trúng tuyển, mừng rơn ! Thế là giải quyết được vấn đề khó khăn nhất ! Vào thời gian này, miền Nam có 3 hệ sư phạm: Sư phạm Cấp tốc, mỗi tỉnh có 1 trường, đào tạo giáo viên dạy tiểu học (cấp I). Quốc gia Sư phạm, vài ba tỉnh mới có một trường, đào tạo giáo sư ra dạy Đệ nhất cấp (cấp 2), Cao Đẳng Sư phạm chỉ có 1 trường tại Sài Gòn, đào tạo giáo sư dạy Đệ I cấp và Đệ 2 cấp (cấp 2, 3). Cao Đẳng Sư phạm là hệ Sư phạm cao nhất tại miền Nam lúc bấy giờ, Đại học Sư phạm mãi đến năm 1958 mới được thành lập. Trường này, theo lời người thầy dạy môn Phương Pháp Sư Phạm của tôi, cũng là Phó Giám Đốc của trường, thầy Phan Thế Roanh, và theo các người bạn lớn tuổi trong ngành, do chính phủ thuộc địa Pháp thành lập để đào tạo giáo sư trung học cho ba miền Việt Nam, Lào, Cambuchia. Trước trường đặt tại Hà Nội, đến 1954, thực thi Hiệp Định Genève, trường được dời vào Sài Gòn, đặt tại ngã tư Cộng Hòa – Thành Thái (bây giờ là Nguyễn Văn Cừ – An Dương Vương), cạnh trường Pétrus Ký, cạnh trường Đại học Khoa học. Môn học còn dạy bằng tiếng Pháp, trừ 2 môn Tâm Lý Sư phạm và Phương Pháp Sư phạm. Thầy cô dạy tại đây, cũng là Thầy cô dạy ở Đại Học Khoa Học. Vì vậy, sinh viên học tại đây phần lớn đều có thể ghi danh học thêm ở Đại Học Khoa Học, rất tiện lợi. Sinh viên ra trường chỉ đủ để bổ nhiệm cho các trường lớn trong nước mà thôi: Gia Long, Pétrus Ký, Chu Văn An, Trưng Vương, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Du, Võ Trường Toản, …. ở Sài Gòn, Quốc Học, Đồng Khánh ở Huế, Võ Tánh ở Nha Trang, Trần Hưng Đạo, Bùi Thị Xuân ở Đà Lạt, … Năm 1958, sinh viên mới được bổ nhiệm đến các tỉnh thành khác: Đà Nẵng, Qui Nhơn, Hội An, Quảng Trị, ….. Phần lớn chỉ 1, 2 năm sau là được đề cử đảm nhiệm chức vụ Giám Đốc, Thanh Tra, Hiệu Trưởng, Giám Học các trường cả. Mấy năm đầu đến Đà Nẵng, tôi vừa dạy vừa tiếp tục việc học của mình một thời gian. Tôi được trường Phan Châu Trinh giao phụ trách giảng dạy ngay các lớp Đệ Nhị Cấp, nhưng chỉ hưởng lương của một giáo sư Trung học Đệ Nhất Cấp, mãi cho đến 5 năm sau, 1963, mới thực thụ là Giáo Sư Trung học Đệ Nhị Cấp.

  1. Một Thời Phan Châu Trinh

Tôi đến trình diện nhận việc tại trường Trung học Phan Châu Trinh Đà Nẵng ngay sáng hôm sau đêm đến Đà Nẵng. Cơ ngơi của trường Phan Châu Trinh còn rất nhỏ, nằm lọt thỏm giữa một giải đất rộng bao la… Sân trường còn trải cát, chỗ cao chỗ thấp, bao quanh bằng một hàng kẽm gai quân đội thấp lè tè, đứng bên ngoài có thể nhìn thấy hết mọi sinh hoạt bên trong. Cây cối trên sân chính chỉ có mấy hàng dương liễu, hàng phượng mới trồng, lơ thơ, ẻo lả trước gió. Năm sau, các hàng cây này được nhổ bỏ đi, trường trồng các cây sao, cây xà cừ thay vào, bây giờ lên cao vút…

Số thầy cô đếm được trên đầu ngón tay, phần đông không qua một khoá sư phạm nào. Các thầy dạy đủ môn, đủ lớp. Năm học này dạy Văn, năm học sau lại được phân công dạy Toán, dạy Lý. Các môn Sử, Địa, Công Dân, Vạn Vật, ….ï thì xem như phân phối lung tung, làm sao cho quý thầy cô đủ số giờ bắt buộc mà Bộ qui định. Một số thầy cô được mời từ các công chức thuộc các Ty, các Sở đóng trong địa bàn thành phố. Các vị này khi rãnh rỗi thì dạy, khi bận công tác thì nghỉ, trường phải bố trí bất cứ ai vào dạy thay. Cái tuyệt diệu của các thầy cô hồi đó là thầy cô nào cũng giỏi, rất vững vàng, dạy môn gì cũng đạt cả. Vì số thầy cô còn ít, nên tình thân mật giữa nhau đậm đà thân thiết vô cùng. Ngoài giờ dạy tại lớp, các sinh hoạt khác: thể thao, văn nghệ, báo chí, xã hội, …. đều được tất cả hăng hái tham gia, nhiệt tình, vui vẻ. Các lần đóng trại xa, các lần trình diễn văn nghệ đón Xuân, bế giảng năm học, những Lễ Phát Thưởng cuối năm, …. đều để lại trong lòng thầy trò những hình ảnh đẹp, không bao giờ quên được.

Sau này tôi vẫn nghĩ lại: chưa có thời gian nào tôi được sống giữa đồng nghiệp, giữa học sinh một cách thân tình, vô tư và trong sáng như vậy.

Tôi lớn lên cùng ngôi trường PCT, tôi chứng kiến bao nhiêu thay đổi. Trước năm học 1958, trường chỉ mới có 8 phòng học, mặt tiền quay ra đường Lê Lợi. Hè 1958 trường xây thêm 8 phòng học gồm 4 trệt 4 lầu, vuông góc với dãy trường cũ, nằm song song với đường Thống Nhất (nay là đường Lê Duẫn). Năm 1960 xây thêm 4 phòng tiếp nối vào dãy giữa. Năm 1962 thêm 10 phòng cho dãy lầu bên phải. Năm 1967, thầy Thái Doãn Ngà, giáo sư Toán trường Quốc Học Huế, được Bộ Giáo Dục cử vào đảm nhiệm chức vụ Giám Học rồi Hiệu Trưởng. Đây là một vị Hiệu Trưởng tháo vát, năng nổ, có công nhiều trong việc xây dựng trường. Trường được đúc móng dựng trụ lên lầu, xây thêm Thư viện, phòng Thí nghiệm, Hội trường, Văn phòng….. Sân trường được đỗ đá tráng nhựa, cổng trường được xây mới bề thế uy nghi. Trường càng ngày càng mở mang lớn, đón tiếp nhiều thầy cô giáo giỏi, bằng cấp cao về giảng dạy. Học sinh càng ngày càng đông, học giỏi, năng động, lớp này ra trường, lớp khác vào, liên tu bất tận.

Năm 1975, đất nước Bắc Nam thống nhất. Tôi được bố trí dạy lại ngay tại PCT và dạy mãi cho đến ngày nghỉ hưu (1998). Do đó, tôi trở thành người thầy có thâm niên dạy liên tục tại trường PCT lâu nhất từ trước đến nay: 40 năm ! Chắc sau này chẳng có ai theo kịp !

  1. Người Thầy Liên Trường

Miền đất Quảng Nam Đà Nẵng là miền Địa linh Nhân kiệt, là đất Ngũ Phụng Tề Phi, nơi sản sinh bao nhiêu danh nhân, anh hùng hào kiệt. Tôi diễm phúc được dạy tại miền đất này không phải chỉ tại trường công lập Phan Châu Trinh mà hầu như ở tất cả các trường Bán Công, Tư Thục trong thành phố: Bán Công Đà Nẵng, Sao Mai, Bồ Đề, Phan Thanh Giản, Nguyễn Công Trứ, Thánh Tâm, Ánh Sáng, Nguyễn Hiền, Tây Hồ, Thành Nhân, Báp Tít, Vinh Sơn, Diên Hồng, Hồng Đức, …. Có trường tôi dạy nhiều năm, có trường chỉ dạy vài ba tháng hay 1 học kỳ thì nghỉ.

Năm 1958-1959, Đà Nẵng chỉ có 2 trường có Đệ Nhị cấp (chưa hoàn chỉnh): Phan Châu Trinh và Bán Công Đà Nẵng. Qua niên khóa 1959-1960, các trường tư khác mới bắt đầu phát triển Đệ Nhị cấp. Các trường Bán Công, Tư thục này thường mời tôi dạy Toán mỗi năm 1 hoặc 2 lớp, thường là 1 lớp Đệ Nhị B, 1 lớp Đệ Nhất A. Học sinh các lớp Đệ Nhị B rất đông, bao nhiêu học sinh ở Đà Nẵng, Hội An, Tam Kỳ, Hoà Vang, Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc, Thăng Bình, Quế Sơn, …. nếu không vào được PCT thì đều học tại các trường tư đó cả. Vì vậy, thuở ấy, học sinh nào có học Đệ Nhị, đã đỗ Tú Tài I phần lớn đều có “gặp“ tôi, không ở các lớp chính thức thì gặp ở các lớp cua. Một điều thú vị là nhiều gia đình có cha, mẹ và 4, 5 anh chị em, đều là “môn đệ ruột” của tôi cả. Những anh chị sau này đến thăm hay nhắc lại, xem như một kỷ niệm hiếm có.

Mới chân ướt chân ráo đến ĐN, khi trình Sự Vụ Lệnh với Thầy Hiệu Trưởng PCT, tôi được thầy mời dạy tại trường Bán Công ĐN (1958-1959) và trao ngay thời khóa biểu cho tôi… Trong các năm học đầu, trường Bán Công được đặt dưới sự quản lý của trường PCT, Hiệu trưởng PCT kiêm nhiệm luôn chức vụ Hiệu Trưởng trường Bán Công. Trường Bán Công Đà Nẵng được thân hào nhân sĩ trong thành phố vận động thành lập năm 1957, để con em mình có chỗ theo học, khỏi phải khăn gói ra Huế, vào Sài Gòn, Nha Trang, vừa tốn kém, vừa bất tiện. Trường chỉ có Đệ Nhị Cấp (lúc này PCT chưa có mở lớp Đệ Nhị Cấp). Niên khóa đầu tiên trường chỉ có 1 lớp Đệ Tam A-B, học tạm tại 1 phòng học mượn của PCT. Đến niên khoá 1958-1959 trường được tỉnh xây cho một cơ sở gồm 4 phòng học, toạ lạc trên một khoảng đất rộng mênh mông, nằm giữa hai con đường Nguyễn Hoàng (Hải Phòng) và Quang Trung, chéo một chút với Thánh Thất Cao Đài ĐN (bây giờ là Bệnh viện Đa Khoa Đà Nẵng). Khuôn viên này hồi đó còn cây cỏ um tùm, ao hồ xen kẻ, mưa tạt gió lùa… Những ngày mưa, đứng dạy, nghe văng vẳng tiếng ểnh ương, ếch nhái vọng vào, thê lương áo não chi lạ. Các thầy cô trong thời gian này, ngoài một số là thầy cô PCT, trường còn mời thêm một số là công chức đang công tác tại Đà Nẵng đến giảng dạy: luật sư Sanh, luật sư Trường, kỹ sư Tiễn, bác sĩ Can, nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, thầy Phan Công Hân, v.v … Học sinh trường rất to con lớn xác, phần lớn là con cháu của các gia đình có máu mặt trong thành phố, có vài em đã có vợ con đàng hoàng, tuy nhiên hiếu học và yêu quý gần gũi với thầy cô vô cùng. Thầy Hiệu trưởng bận công tác tại trường PCT, nên mọi việc điều hành trường đều giao cho cụ Đoàn Văn Khánh, mục sư Tin Lành, chức vụ Tổng Giám Thị, phụ trách. Tôi vẫn nhớ dáng cao lớn bệ vệ hồng hào của cụ Khánh, luôn có mặt tại trường rất sớm, đi trên chiếc xe Mobylete Pháp cũ kỹ, để coi sóc giữ gìn trật tự cho trường. Nghiêm trang, bao dung, vui vẻ, hiền hòa với tất cả mọi người, tận tụy với nhiệm vụ. Văn phòng có bác Bửu Diêu (PCT) lo việc kế toán, bác xã Ký lo việc hồ sơ, có bác cai Nhẫn, mặt luôn đỏ au vì đế, lo việc bảo vệ ! Tôi còn nhớ tên rất nhiều em học sinh Bán Công giai đoạn này: Đặng Công Phu, Trần Đình Ba, Võ Văn Khởi, Nguyễn Hữu Xuân, Huỳnh Công Khanh, Nguyễn Cù Mông, Minh Nguyệt, Huyền Tâm, Bích Ngọc, Trần Thị Dung, Mộng Điệp, Kim Thoa, Kim Yến, Tuyết Giao, Kim Ngọc, Hương Bửu, Vũ Anh Nghi, Kim Quỳ, Trần Thị Lý, Mỹ Lợi, Nguyễn Thị Thoại, … … …

Đến năm 1963, tỉnh lấy khuôn viên này để xây bệnh viện Đa khoa ĐN, trường Bán Công được dời đến học tại địa điểm mới trên đường Lê Thánh Tôn, cơ sở của trường tư thục Nguyễn Công Trứ vừa bị giải thể. Lúc này trường mới có cả Đệ Nhất cấp, Đệ Nhị cấp. Thầy Trịnh Thể, một thầy giáo thanh liêm, mẫu mực, uy tín của thành phố, được mời giữ chức vụ Hiệu Trưởng. Tôi nhớ dáng thầy cao ốm, luôn luôn mặc y phục trắng toát, vẻ mặt nghiêm nghị nhưng cởi mở vô cùng. Năm 1973, trường được công lập hóa và đổi tên là trường Diên Hồng, thầy Nguyễn Ngọc Thanh (PCT) được giao nhiệm vụ Hiệu Trưởng…

Tôi dạy tại trường Bán Công ĐN từ 1958 cho đến 1972 thì nghỉ, vì phải đảm nhiệm chức vụ Giám Học tại Phan Châu Trinh, công tác bận rộn lu bù. Một kỷ niệm đậm nét trong tôi: số tiền đầu tiên tôi tự kiếm được để chi tiêu cho mình là tiền lương dạy tại trường Bán Công đó.

Tôi đến dạy tại trường Tư thục Sao Mai từ niên khóa 1959-1960, năm trường mở Đệ Nhị cấp. Niên khóa này tôi nhớ lúc đầu Hiệu Trưởng trường là Linh Mục Lê Văn Ấn, chừng vài tháng sau, linh mục Lê Văn Ấn được Tòa Thánh phong làm Tổng Giám Mục địa phận Đà Nẵng nên linh mục Vũ Như Huỳnh phụ trách chức vụ Hiệu trưởng thay thế, cho mãi đến 1975.

Tôi nhớ lớp Đệ Nhị B đầu tiên của trường Sao Mai rất đông, sỉ số hơn cả 100, có những học sinh rất giỏi, không thua kém gì trường công lập: Trương Thị Huệ, Hoàng Thị Phụng, Sơn, Trinh, Chênh, Thành, Xuân,… Lớp được trường bố trí học tại phòng rộng nhất ở lầu 3, có những cột trụ chống đỡ to bằng người ôm, nhìn ra con sông Hàn bao la bát ngát, gió thổi hây hây mát rượi. Nhìn chéo một chút là Cổ Viện Chàm, âm u, huyền bí… Xa xa bên trái là dãy núi Sơn Chà quanh năm mây trắng phủ đầy đỉnh núi, bên phải là cầu De Lattre cheo leo vắt ngang sông, mờ mờ sóng nước. Giảng bài xong, sau khi ra bài tập cho học sinh soạn, tôi thường đến đứng bên cửa sổ lặng ngắm các tàu bè qua lại, ngắm khói sóng lãng đãng trên sông, thả hồn bay bỗng vu vơ bờ này bến nọ. Lắm bài thơ ý thơ của tôi được hình thành lúc đó. Trường Sao Mai là trường tôi dạy lâu nhất sau PCT, mãi đến cuối tháng 3.1975 mới nghỉ, khi trường được giao cho chính quyền mới tiếp quản.

Tôi dạy tại trường Bồ Đề từ năm học 1959 -1960, khi trường mở Đệ Nhị cấp và cơ sở dời về đường Quang Trung (bây giờ là trường trung học cơ sở Nguyễn Huệ)… Đến khi bị gọi nhập ngũ, tôi mới nghỉ dạy. Trình diện tại trại Nhập Ngũ số I, khám sức khỏe, rồi được Bộ Giáo Dục can thiệp cho học Quân Sự 9 tuần về, định dạy lại nhưng sau xin thôi luôn. Tôi nhớ lớp Đệ Nhị B đầu tiên của trường Bồ Đề học ở phòng lớn nhất thuộc tầng 2, nhìn ra cổng trường, có các tường chắn xây bằng gạch tổ ong, gió thổi lùa qua mát đến lạnh người, mỗi lần giảng bài phải hét thật to, kẻo tiếng nói bị gió thổi và tiếng xe chạy ngoài đường làm loãng đi… Tôi nhớ lớp này cuối năm học có một vở Kịch rất hay: Trưng Trắc Trưng Nhị. Cô nữ sinh đóng vai Trưng Trắc đẹp mê hồn và ngâm thơ rất hay… Vở kịch gây xúc động nhiều trong lòng học sinh lúc ấy. Tôi nhớ Hiệu Trưởng của trường là một vị Đại Đức, hiền từ và rất đẹp trai: Đại Đức Thích Minh Tuấn.

Trường tư thục Phan Thanh Giản là một trường có uy tín lớn. Tôi vẫn tiếc mình dạy ở trường này thời gian ít quá, khoảng 3 tháng. Tôi nhớ năm học 1960-1961 (hay 1959-1960 ?), đảm nhiệm chức vụ giám học trường là anh Trương Hồng Minh, bạn thân của tôi hồi học Khải Định (Huế). Anh bị gọi động viên, mời tôi đến dạy thay anh. Khi anh được hoãn dịch trở về, tôi trả lớp cho anh, mặc dầu anh yêu cầu tôi tiếp tục. Thuở đó tôi dạy tại nhiều trường nên bị kẹt Thời Khóa Biểu. Vả lại thuở trẻ tôi cũng ham chơi nữa.

Tôi dạy tại Trường Thánh Tâm cũng được 5, 6 niên khóa trước 1975, do anh Vĩnh Linh nhường lại. Tôi được giao phụ trách môn Toán tại lớp 12. Tôi nhớ lớp học bao giờ cũng chỉ có 6, 7 chị Nữ Tu, đạo đức, hiền từ, lễ phép, chăm chỉ rất mực, lớp học luôn luôn im lặng như tờ. Đến cuối tháng 3-1975 tôi mới nghỉ dạy tại đây.

Tôi dạy tại trường Ánh Sáng từ năm 1973 đến 1975, một lớp 12 A, thưở chị Nguyễn Thị Thanh làm Hiệu Trưởng và anh Nguyễn Châu Hóa làm Giám Học

Tôi dạy tại trường Nguyễn Hiền, hậu thân của Blaise Pascal niên học 1974-1975. Năm đó, anh Đặng Ngọc Tuấn (trước là Giám Học PCT) mới từ Huế được cử vào phụ trách Giám học tại đây. Anh mời tôi đến dạy với tư cách giáo sư dạy giờ, Toán lớp 12 A. Tôi nhớ lớp chỉ có khỏang 10 nữ sinh, em nào cũng hiền lành, thông minh, đẹp đẽ, đài các. Hằng Nga, Kim Anh, Lan, Lộc, Ngọc, … Lớp học nằm ở một phòng học riêng biệt, cheo leo ở lầu 2 dãy nhà mới, nhìn ra đường Quang Trung, con đường được học sinh hồi đó gọi là Đường Tình Sử.

Tôi có dạy 1 thời gian tại trường Thành Nhân của anh Hồ Duy Trinh, trường Vinh Sơn của Linh Mục Trinh, trường Tây Hồ, Trung Tâm Báp Tít,…..

Tôi cũng có vào dạy tại trường Trần Cao Vân, Tam Kỳ, trên giấy tờ khoảng 3 tháng, nhưng trên thực tế khoảng 2 tuần. Tuy thời gian dạy tại đây không là bao, nhưng tôi cũng có rất nhiều kỷ niệm đẹp với ngôi trường lắm nhân tài này.

Năm tôi nghỉ hưu, 1998, thành phố Đà Nẵng được phép mở Tư Thục lại. Tôi được 2 trường Tư Thục mới mời đến dạy: trường Tư Thục Diên Hồng và trường Tư thục Hồng Đức. Dạy tại 2 trường này 4 năm thì tôi xin nghỉ hẳn, vào Sài Gòn lang thang ……

(Còn Tiếp)

About motthoi6673pctdn

nơi gặp gỡ của các chs nk 6673 pctdn và thân hữu
Bài này đã được đăng trong Thầy Cô. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s