Mùa Vọng 3-2016: Giải Nhân Quyền Václav Havel, Khối Hiến Chương 77, Giải Olof Palme (Hoa Bắc cực)

  1.  Giải Václav Havel Nhân Quyền, Giải Olof Palme

chuyenmuavong_03_pic03_1r4.1. Giải Václav Havel Nhân Quyền

Lời người viết: Trong bài “Chuyện tuần Chủ Nhật thứ ba Mùa Vọng (3), nói về Giải thưởng Tự do Tư tưởng Sakharov”, có đề cập đến Cô Nadia Murad Basee Taha, người Yazidi, được trao giải thưởng Nhân quyền Václav Havel của Nghị viện Hội đồng Âu châu. Nay xin được nói chút ít khái niệm về giải này.

***Giải này được đặt theo tên ông Václav Havel, người Tiệp – một nhà văn, nhà viết kịch, nhà bình luận, nhà hoạt động nhân quyền, nhà bất đồng chính kiến, một tù nhân lương tâm và là một chính trị gia. Ông sinh ngày 5 tháng 10 năm 1936 tại thủ đô Praha nước Tiệp Khắc và mất vào ngày 18 tháng 12 năm 2011, hưởng thọ 75 tuổi. Ông sinh ra trong một gia đình trí thức tư sản nổi tiếng của Tiệp Khắc. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, vì lý do lý lịch nên việc học của ông gặp trắc trở. Ông phải tự học và trở thành một nhà văn, nhà viết kịch. Năm 1968, ông bị cấm viết kịch từ đó ông bắt đầu hoạt động chính trị. Vì là một trong những người đề xướng Hiến chương 77 (Khối Hiến Chương 77) (xem phần dưới) nên ông phải ngồi tù 5 năm.

Ông là lãnh tụ của cuộc Cách mạng Nhung (Tiệp Khắc), và được Quốc Hội chỉ định trở thành tổng thống của Tiệp Khắc vào ngày 29.12.1989. Sau sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản, một năm sau (1990) trong một cuộc bầu cử tự do đầu tiên, ông lại được bầu là vị Tổng thống thứ 9 và là vị Tổng thống cuối cùng của nước Tiệp Khắc trước khi Tiệp Khắc bị phân hai thành cộng hòa Tiệp (Séc) và cộng hòa Slovakia (Khắc). Việc ông làm đầu tiên trong chức vị Tổng Thống là ban hành lệnh ân xá cho tất cả những phạm nhân bị giam cầm dưới thời cộng sản và ông đã từ chức khi Tiệp Khắc bị phân hai.

Sau khi nước cộng hòa Tiệp được thành lập, ông lại được bầu làm Tổng Thống đầu tiên vào ngày 26.1.1993 và liên tục giữ chức vị này trong suốt 10 năm cho đến ngày 28.2.2003.

Ngoài ra ông còn là người đứng đầu Diễn đàn Dân sự (Civic Forum), một tổ chức chính trị đã giành thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử tự do đầu tiên sau chế độ cộng sản. Ông đã dẫn đầu cả nước trong quá trình chuyển đổi sang nền dân chủ và kinh tế thị trường, và từ thành viên của khối Hiệp ước Warszawa (khối Đông Âu), trở thành một thành viên của khối Hiệp Ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) (khối Tây Âu).

Sau khi rút lui khỏi chính trường, ông vẫn ủng hộ các phong trào bất bạo động chống chế độ toàn trị ở các nước như Cuba, Việt Nam và Trung quốc. Ông đã đoạt rất nhiều giải thưởng quốc tế như: Giải Olof Palme (xem phần dưới) năm 1989, Giải Hòa bình của ngành kinh doanh sách Đức năm 1989, Giải Ý thức toàn cầu năm 1996, Giải thưởng Hoàng tử xứ Asturias về Truyền thông và Nhân văn năm 1997. Về sự nghiệp văn học, ông đã đoạt Giải quốc gia Áo cho Văn học Âu châu năm 1968, Giải Franz Kafka năm 2010, v.v…

Giải thưởng Václav Havel là Giải thưởng để tưởng nhớ ông – Václav Havel, vị Tổng thống cuối cùng của Tiệp Khắc và là vị Tổng thống đầu tiên của Cộng hòa Tiệp (Séc), được Nghị viện Hội đồng Âu châu trao tặng hàng năm kể từ năm 2013.

Đây là một giải thưởng về nhân quyền quốc tế được thành lập vào ngày 25 tháng 3 năm 2013 qua Hiệp định thành lập giải thưởng này được ký kết tại Cung Czernin, thủ đô Praha, cộng hòa Tiệp giữa Chủ tịch Hội đồng Nghị viện Châu Âu: Jean-Claude Mignon, đại diện Thư viện Václav Havel: Marta Smolikova và đại diện Khối Hiến chương 77: giáo sư František Janouch. Buổi lễ ký kết được Phó Thủ tướng thứ nhất kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Cộng hòa Tiệp (Séc) – Karel Schwarzenberg tổ chức, và bảo trợ.

chuyenmuavong_03_pic04_1Giải thưởng Nhân quyền Václav Havel được tổ chức nhằm tôn vinh các hoạt động về nhân quyền xã hội dân sự nổi bật. Giải thưởng này được thay thế giải thưởng nhân quyền của Hội đồng châu Âu đã thành lập vào năm 2009 và trao tặng mỗi hai năm một lần, lần thứ nhất vào năm 2009, giải đã trao cho một tổ chức theo dõi nhân quyền Anh quốc và Ái Nhĩ Lan (British Irish Human Rights Watch), lần thứ hai vào năm 2011 cho tổ chức chống tra tấn Nga (Russian Committee against Torture).

Sau năm 2011, các giải thưởng Nhân quyền Václav Havel đã được trao tặng bởi một ban giám khảo gồm Chủ tịch Hội đồng Nghị viện Âu châu và sáu cá nhân độc lập chuyên môn về vấn đề nhân quyền và sẽ được đưa ra quyết định trong một phiên họp của các Hội đồng Nghị viện ở Strasbourg mỗi tháng mười.

Các cá nhân, các tổ chức phi chính phủ, hoặc các tổ chức làm việc, hay bảo vệ nhân quyền đều có thể được đề cử. Giá trị giải thưởng là 60.000 € (tiền EU). Một nửa số tiền từ Nghị viện Âu châu và phân nửa còn lại được Bộ Ngoại giao Cộng hòa Tiệp (Séc) đóng góp, cùng một danh hiệu và bằng chứng nhận (diplom).

Cô Nadia Murad Basee Taha (Nadia Murad), một người thuộc sắc tộc thiểu số Yazidi, đã bị chiến quân Nhà nước Hồi giáo IS bắt trong trận thảm sát ở làng Kocho, và cô có 6 anh chị em và mẹ bị giết chết trong trận tàn sát này. Riêng cô và hàng ngàn phụ nữ người Yazidi khác còn khả năng phục vụ tình dục đã bị chiến binh Nhà nước Hồi giáo (IS) bắt và đưa về bản doanh IS tại thành phố Mosul, nằm phía bắc Irak để rồi cưỡng bức họ làm nô lệ tình dục. Cô trốn thoát được vào tháng 11.2014.

Lễ trao giải Nhân quyền Václav Havel cho cô Nadia Marud được diễn ra trong một buổi lễ đặc biệt tại tòa nhà Nghị viện Âu châu (Palais de l’Europe) ở Strasbourg, Pháp vào ngày Thứ Hai, 10.10.2016 và đó cũng là ngày khai mạc phiên họp mùa thu của Hội đồng Nghị viện. Cô Nadia Marud là người thứ 4 nhận giải thưởng này.

Lần thứ nhất – năm 2013, giải trao cho ông Ales Bialiatski, người Belarus. Ông sinh ngày 25.9.1962 tại Vyartsilya, Karelian, Belarus, là một nhà tranh đấu cho nhân quyền tại Belarus, là Phó Chủ tịch Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền.

Từ đầu những năm 1980, Ales Bialiatski, một nhà văn trẻ người Belarus, và sau khi theo học tại Đại học Gomel Khoa Lịch sử và Ngữ văn, ông đã tham gia phong trào dân tộc dân chủ. Và trong khi thế giới vẫn còn bức màn sắt, ông đã là một thành viên sáng lập một đảng phái chính trị có tên “Belarus Popular Front” (BPF Party), và đã giúp đỡ để thành lập hiệp hội nhà văn trẻ mà ông là chủ tịch trong nhiều năm, và ông còn tiếp tục gia nhập Hiệp hội Nhà văn Belarus. Sau đó, ông đã tổ chức các cuộc biểu tình đầu tiên chống lại chủ nghĩa toàn trị. Các vụ việc này đã đưa ông vào tù từ năm 1988, đánh dấu sự khởi đầu của một chuỗi dài các vụ bắt giữ và sách nhiễu. Từ ý tưởng của đảng BPF-Party, các nước lân cận trước đây nằm trong khối Liên bang Sô Viết cũng đã thành lập những tổ chức, đảng phái chính trị có khuynh hướng chống lại chủ nghĩa toàn trị, như: Popular Front of Estonia, Popular Front of Latvia, và tại Lithuania là “Reform Movement of Lithuania”.

Lần thứ hai – năm 2014, giải trao cho ông Anar Mammadli, sinh năm 1978 ở Yevlakh, Azerbaijan. Ông là một nhà bảo vệ nhân quyền Azerbaijan nổi tiếng, người đã có đóng góp đáng kể cho sự tôn trọng các quyền con người và các cuộc bầu cử tự do trong khu vực của mình. Ông là người sáng lập và chủ tịch của giám sát bầu cử và Trung tâm Nghiên cứu Dân chủ (EMDS), mà từ năm 2001 đã theo dõi phiếu ở Azerbaijan. Tháng 12 năm 2013, Anar Mammadli bị buộc tội “lạm dụng chức vụ” và ông bị kết án tù giam năm năm rưỡi…

Lần thứ ba – năm 2015, giải trao cho bà Ludmilla Alexeeva (Lyudmila Alekseeva, tên đầy đủ là Lyudmila Mikhailovna Alexeyeva), sinh ngày 20.7.1927 tại Yevpatoria, Crimea, Liên bang Xô Viết. Quốc tịch Nga.

Bà là một nhà bảo vệ nhân quyền kỳ cựu tại quê hương Nga của mình. Trong thời niên thiếu của bà, bà đã từ bỏ sự nghiệp học thuật đầy hứa hẹn để tham gia các phong trào bất đồng chính kiến của Liên Xô. Bà trở thành một trong những thành viên sáng lập của Hiệp hội (Nhóm) Moscow Helsinki (Moscow Helsinki Group) – một tổ chức nhân quyền chống chế độ độc tài toàn trị của Liên bang Xô-Viết thời Bấy giờ. Vào tháng 2 năm 1977, bà bị buộc phải di cư đến Mỹ, nhưng đến năm 1989, bà trở về lại Nga để tiếp tục việc tranh đấu của mình, trở thành Chủ tịch Quỹ (Nhân quyền) Quốc tế Helsinki (1990) và sau đó là Chủ tịch Ủy ban về Nhân quyền Nga. Bà đã làm việc không ngừng nghỉ để luôn bảo vệ và thúc đẩy các quy tắc của pháp luật. Bà cũng nhận được nhiều giải thưởng quốc tế trong đó có Giải Olof Palme năm 2004, và Giải Sakharov về tự do tư tưởng năm 2009.

Cô Nadia Marud cũng được đề nghị là một ứng viên trong danh sách 376 ứng viên giải Nobel Hòa bình năm 2016, gồm 228 cá nhân và 148 hội đoàn, tổ chức. Vào tháng 9 năm 2016, cô đã được bổ nhiệm là Đại sứ Thiện chí của Liên Hiệp Quốc đầu tiên trong việc bảo vệ phẩm giá những người sống sót của tệ nạn buôn bán người, trong vai trò này cô Nadia Marud luôn kêu gọi cộng đồng quốc tế hãy hành động nhiều hơn nữa để đưa quân khủng bố ra trước công lý.

Sau khi nhận Giải thưởng Nhân quyền Václav Havel, cô Nadia Murad bày tỏ: “Tôi sẽ tặng giải thưởng này cho tất cả những phụ nữ trên khắp thế giới đang bị ngược đãi, và hàng nghìn phụ nữ, trẻ nhỏ Yazidi đang sống trong địa ngục IS trong 2 năm qua. Điều này giúp tôi có thêm sức mạnh để tiếp tục tiến về phía trước để chiến đấu chống chủ nghĩa cực đoan ở mọi hình thức”. Kể từ khi thoát khỏi nhà nước Hồi giáo IS, cô Nadia Marud cũng đã tới thăm Ai Cập, Hy Lạp, Kuwait, Na Uy, Mỹ và Anh, … để nâng cao nhận thức về cảnh ngộ của người Yazidi – một sắc dân thiểu số tập trung chủ yếu ở bắc Iraq và Syria đang bị tổ chức Nhà nước Hồi giáo IS đàn áp, diệt vong.

4.2. Khối Hiến chương 77

Theo Bách khoa Toàn thư mở Wikipedia thì: Hiến chương 77 là tên gọi của một kiến nghị được công bố vào tháng giêng 1977 lên án những hành động vi phạm nhân quyền của chính quyền Cộng sản tại Tiệp Khắc, nó cũng là tên của một phong trào dân quyền, mà trong thập niên 1970 cũng như 1980 trở thành trung tâm của phe đối lập.

Năm 1976 nhiều văn nghệ sĩ và nhiều người trong giới trí thức, cả thợ thuyền, giám mục, cựu đảng viên Cộng sản và cả cựu mật thám, trong số này có nhà viết kịch Václav Havel, Jiří Hájek và Jiří Dienstbier (chính trị gia của Mùa xuân Praha) – cùng với những người Tiệp Khắc bình thường khác họp nhau lại để cùng nêu lên những vi phạm nhân quyền của chính phủ, trái với những gì mà ngoại trưởng Tiệp Khắc đã ký trong Hiệp ước Helsinki vào ngày 1 tháng 8 năm 1975.

Trực tiếp đưa tới vụ này là những hành động trù dập của chính quyền đối với ban nhạc The Plastic People of the Universe. Ban nhạc này là một ban nhạc rock, được thành lập ngay sau vụ xâm lăng của Khối Warszawa (Khối Đông Âu) vào năm 1968, đã tổ chức nhiều đại nhạc hội. Họ là nơi thu hút quan trọng trong giới ca nhạc sĩ độc lập với chính quyền và rất lôi cuốn giới trẻ. Trong một buổi trình diễn vào tháng 2.1976 nhiều thành viên của ban nhạc bị bắt và rất nhiều người đi nghe cũng bị hỏi cung. Hành động này đưa tới những phản đối trong nước, cũng như tại hải ngoại. Václav Havel xem những trù dập đối với nhóm the Plastic People là cuộc tấn công của một chế độ toàn trị vào đời sống con người, vào tự do của con người, và ông lên tiếng kêu gọi phải ngăn cản để việc này không còn tiếp diễn.

Hiến chương 77 được công bố vào ngày 1 tháng giêng 1977 với 242 chữ ký. 6 ngày sau Hiến chương này được in trên các tờ báo lớn tại Âu châu như tờ The Times, Le Monde hay là Frankfurter Allgemeinen Zeitung. Tuy nhiên các tờ báo trong nước thì không được phép phổ biến. Vào tháng giêng, và tháng 2 có một chiến dịch rầm rộ của nhà nước chống lại Hiến chương này, cũng nhờ vậy mà cả nước biết đến đến nó.

Cho tới cuối năm 1977 Hiến chương có 800 người ký, và tới năm 1985 thì khoảng 1200 người và tới năm 1989 con số lên đến 2000 người ký. Những người chính yếu biên soạn, viết bản Hiến chương và cũng là những phát ngôn viên đầu tiên của phong trào là Václav Havel, triết gia Jan Patoka và cựu ngoại trưởng Jiří Hájek.

Hiến chương này so sánh những quyền căn bản, đã được thỏa thuận trong Hiệp ước Helsinki và một phần cả trong luật pháp của Tiệp Khắc, cho thấy quyền tự do ngôn luận chỉ là ảo tưởng, quyền được học tập bị ngăn cản, hàng trăm ngàn người trong giới trẻ vì những tư tưởng của họ hay của cha mẹ không được vào đại học, tự do tôn giáo bị giới hạn có hệ thống một cách độc đoán. Nói chung dưới sự chỉ đạo chính trị của những người cầm đầu đảng cầm quyền và quyết định của một vài người có thế lực đã giới hạn hoặc tướt đoạt hoàn toàn một số dân quyền hay đặt tất cả các hội đoàn, tổ chức dưới sự chỉ đạo chính trị của những người cầm đầu đảng cầm quyền và quyết định của một vài người có thế lực. Hiến chương đòi hỏi chính phủ Tiệp Khắc phải tuân theo những gì họ đã ký, đặc biệt là hiệp ước Helsinski.

Những người tham dự vào phong trào gồm nhiều nhóm, cá nhân có quan điểm chính trị khác nhau, có cả đảng viên Đảng Cộng sản, cũng như những người chống đối đảng này, những người vô thần, hoặc theo các đạo Ki tô giáo cũng như các đạo khác, rồi cũng có những người nổi tiếng khác tham gia phong trào như nhà xã hội học Rudolf Battěk hay triết gia kiêm toán học gia Václav Benda.

Mục đích của phong trào là mỗi năm bầu 3 người phát ngôn viên, để có những cuộc đối thoại với những người đại diện của chính quyền. Theo đó phong trào sẽ cho ý kiến về các vấn đề xã hội, trong nghề nghiệp, tự do đi lại, bảo vệ môi trường, tự do tín ngưỡng… và đòi hỏi phóng thích những tù nhân chính trị. Phong trào cũng ghi nhận và loan báo các vụ vi phạm nhân quyền rồi đưa ra các đề nghị giải quyết. Một trong những hoạt động khác của phong trào là in sách hay các bài viết, sách báo bị cấm, thí dụ như các dịch phẩm, tác phẩm của các tác giả như Orwell, Koestler, những tác phẩm của các nhà văn Tiệp Khắc cũng như những người khác hoặc đã di cư hoặc bị xem như không có tồn tại.

Trong văn bản viết về việc thành lập hiến chương có đoạn: “Hiến chương 77 không phải là một tổ chức, không có điều lệ, không có những bộ phận thường trực, không có những thành viên được tổ chức. Bạn tự nhiên là thành viên, nếu bạn cùng đồng ý với ý tưởng của nó, tham dự vào những việc làm của phong trào và ủng hộ, giúp đỡ nó. Hiến chương 77 không phải làm một nền tảng cho một hoạt động chính trị đối lập. Nó chỉ muốn phục vụ cho lợi ích của tập thể như những sáng kiến của người dân tại Tây và Đông Âu.”

Trong số những người ký tên còn có: Petr Pithart (cựu Chủ tịch Thượng nghị viện và sau này là cựu thủ tướng), Václav Malý (tổng giám mục tại Prag), nhà xã hội học Jiřina Šiklová và nhà văn Josef Hiršal, Zdeněk Mlynář (Chính trị gia), Tổng Bí thư Ủy ban Trung ương đảng Cộng sản năm 1968, Ludvík Vaculík, tác giả của Tuyên ngôn với 2000 chữ và triết gia Milan Machovec, những người đóng vai trò quan trọng trong sự cố mùa xuân Praha.

Hiến chương đạt được nhiều hưởng ứng tại Tây Âu (nơi nhiều tài liệu của hiến chương được công bố) cũng như trong giới bất đồng chính kiến tại Ba Lan, Hungary, và Đông Đức, Belarus (Hiến chương 97 (1997), Trung quốc (Hiến chương 08 (2008)),…

Nhờ sự hiến thân của những người ủng hộ và tiếng tăm của Hiến chương, cuộc Cách mạng Nhung năm 1989 đã xảy ra một cách yên bình, nhiều người trong Hiến chương đã đạt được các chức vụ chính trị cao trong chính quyền mới.

Năm 1992 Hiến chương 77 chấm dứt chính thức công việc của mình. (Trích từ Bách khoa Toàn thư mở Wikipedia)

4.3. Giải Olof Plame

chuyenmuavong_03_pic04_2rOlof Palme tên ngắn của Cố Thủ tướng Thụy Điển bị ám sát trên đường trở về nhà từ một rạp xi-nê với bà vợ Lisbet Palme trên đường phố Sveavagen ở trung tâm Stockholm, thủ đô Thụy Điển, lúc gần nửa đêm ngày 28.2.1986.

Tên đầy đủ của ông là Sven Olof Joachim Palme, sinh ngày 30.1.1927 tại Ostermalm, Stockholm, Thụy Điển. Ông từng đảm nhận nhiều chức vị quan trọng trước khi là Chủ tịch Đảng Dân chủ Xã hội Thụy Điển từ năm 1969 cho đến ngày mất (1986), và Thủ tướng Chính phủ Thụy Điển 2 lần, lần nhất từ năm 1969 – 1976, và lần thứ hai từ 1982 cho đến khi ông bị ám sát chết vào năm 1986. Vụ ám sát này là vụ ám sát chính trị gia đầu tiên trong lịch sử Thụy Điển hiện đại và có tác động lớn khắp vùng Bắc Âu.

Dù sinh ra trong một gia đình thuộc giai cấp thượng lưu, bảo thủ, nhưng khuynh hướng chính trị của ông lại chịu ảnh hưởng của lý tưởng Dân chủ Xã hội.

Olaf Palme trong suốt thời gian là chính trị gia, rất được lòng, và phổ biến đối với các người cánh tả, nhưng ngược lại thì ông bị người cánh hữu thù ghét đến nỗi có một từ «palmehat» (tạm dịch: thù / ghét Palme) để xác định sự ghét bỏ này. Điều đó một phần là do phong cách tranh luận hùng hổ và nói thẳng của ông, mặt khác có lẽ là do các hoạt động quốc tế của ông ta, đặc biệt những hoạt động chống Hoa kỳ mới chính là nguyên nhân sự thù ghét này. Tuy ông Olof Palme đã có thời gian theo học ở trường Kenyon College, Ohio, Hoa kỳ trong năm 1947–1948, và đã tốt nghiệp bằng B.A. trong thời gian chưa đầy 1 năm, rồi lại được du hành khắp nước Mỹ cũng như trong nhiều cuộc thăm viếng Hoa kỳ những năm sau đó, nhưng ông vẫn thường nhận xét rằng nước Mỹ đã làm cho ông trở thành một người theo chủ nghĩa xã hội.

Sau khi ông mất một năm thì gia đình của ông phối hợp với Đảng Dân chủ Xã hội Thụy Điển thành lập vào ngày 6.2.1987, một Quỹ Tưởng niệm mang tên ông (Quỹ Olof Palme) và Quỹ được trao hàng năm cho những người hoặc tổ chức có các đóng góp đáng kể cho sự thông hiểu quốc tế và an ninh chung. Người lãnh giải sẽ nhận được một bằng chứng nhận và số tiền thưởng hiện nay lên tới 75.000 USD, và ngày trao giải nếu được thì chọn ngày sanh của ông Olof Palme tức ngày 30.1 hàng năm.

Giải trao lần đầu vào năm 1987, và người đoạt giải là ông Cyril Ramaphosa sinh ngày 17.1.1952, người Nam Mỹ, hiện là Phó Tổng thống Nam Mỹ từ mùa xuân 2014, là người rất tích cực trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc.

Và năm vừa qua 2015 giải được trao cho ông Gideon Levy sinh ngày 2.6.1953, là nhà báo người Do Thái chuyên viết bài chỉ trích việc Do Thái chiếm đóng Palestine và ông Mitri Raheb sinh năm 1962 tại Bethlehem, một Mục sư Tin lành người Palestine tại nhà thờ ở Bethlehem..

Năm trước nữa 2014, Giải thưởng Olof Palme được trao tặng cho nhà triết học Trung quốc, Giáo sư Xu Youyu, sinh năm 1947, hiện sống ở Bắc kinh, trong việc ông đã tích cực đề cao tính dân chủ và tự do ngôn luận. Ông cho rằng việc tranh đấu cho tự do, công bằng xã hội, và các quyền của con người là một cuộc chiến ông đang tiến hành tại Trung quốc.

Ngoài Giải Palme, Quỹ Tưởng niệm Olof Palme mỗi năm còn trao học bổng phù hợp với mục đích của Quỹ là vì hòa bình, cho sự thông hiểu quốc tế và an ninh chung, chống phân biệt chủng tộc và sự thù địch với người nước ngoài cho rất nhiều cá nhân, tổ chức. Trị giá giải thưởng trung bình cho cá nhân là từ SEK 3,000,- đến SEK 10,000,- (khoảng 1.100 USD), và các tổ chức thì từ SEK 20,000,- đến SEK 60,000,- (khoảng 6.400 USD).

Kể từ năm 2016, Quỹ sẽ có 2 lần trao học bổng trong một năm và Ban Điều hành đã quyết định vào ngày 12.5 sẽ trao tổng giải thưởng học bổng là SEK.837.500 cho lần trao thứ nhất của năm 2016 – Học Bổng Mùa Xuân (hạn chót nộp đơn cứu xét là ngày 20 tháng 3) và đã có 29 hội đoàn, tổ chức nhận giải. Vào ngày 8.11, Ban Điều hành cũng đã quyết định trao tổng giải thưởng học bổng là SEK.706.000 cho lần trao thứ hai – Học Bổng Mùa Thu (hạn chót nộp đơn cứu xét là ngày 20 tháng 9) và cũng đã có 29 hội đoàn, tổ chức nhận giải.

Từ nay hàng năm, hạn chót nộp đơn xin Học Bổng – Mùa Xuân là ngày 20.3 và Học Bổng – Mùa Thu là ngày 20.9. Hạn chót nộp xin Học Bổng – Mùa Xuân 2017 là ngày 20.3.2017.

Hoa Bắc cực

About motthoi6673pctdn

nơi gặp gỡ của các chs nk 6673 pctdn và thân hữu
Bài này đã được đăng trong Đời Sống, Xã Hội. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s