Năm Dần kể chuyện cọp Thất Sơn (nguồn Phật Tử Việt Nam)

Đây là giang sơn của ác thú và bệnh tật hoành hành. Nhưng đó cũng là nơi các đạo sĩ, nhà sư đến tu tập hoặc hành thiện cứu đời, giúp nước trong ách thống trị của ngoại bang.

Nhận xét về miền Thất Sơn, học giả Pháp P. Gourou (3) đã viết trong quyển L’utilisation du sol en Indochine Francaise, rằng đây là một nơi độc đáo mà toàn cõi Nam kỳ không có địa thế nào giống như vậy.

Đúng vậy, miền đất này thuở ấy là một nơi bí hiểm với nhiều chuyện ly kỳ nên người đời gọi là “Thất Sơn huyền bí”. Trong bối cảnh ấy, con người và ác thú, nhất là cọp, đã “gặp” nhau tạo nên những câu chuyện huyền thoại.

Nhân năm Canh Dần, xin kể một vài chuyện ngày nay hiếm người biết, trước tiêu khiển, sau ngẫm nghĩ về việc “tương sanh” giữa con người và con thú.

Thất Sơn còn được gọi là Bảy Núi, tên gọi rất quen thuộc với người địa phương và của cả nước. Theo cố bô lão Lương Văn Phụng thì Thất Sơn gồm 7 ngọn: núi Kéc (Anh Vũ Sơn), núi Giài Năm Giếng (Ngũ Hồ Sơn), núi Cấm (Thiên Cẩm Sơn), núi Tượng (Liên Hoa Sơn), núi Nước (Thủy Đài Sơn), núi Dài (Ngọa Long Sơn) và núi Tô (Phụng Hoàng Sơn).

Còn trong tác phẩm Thất Sơn huyền bí, nhà văn Hồ Biểu Chánh cho rằng Thất Sơn gồm: núi Trà Sư, núi Kéc, núi Dài, núi Tượng, núi Bà Đội Om, núi Tô và núi Cấm.

Đại Nam nhất thống chí thì ghi Thất Sơn là núi Tượng, núi Tô, núi Cấm, núi Ốc Nhâm, núi Nam Vi, núi Châm Biệt và núi Nhân Hòa. Cho nên nhà văn Sơn Nam trong quyển Danh thắng miền Nam bảo: “Con số bảy này không căn cứ vào thực tế, có thể đến hai mươi hoặc ba mươi ngọn núi to nhỏ, nhưng Bảy là dựa vào phong thủy”.

Người địa phương thì coi Thất Sơn bắt đầu từ núi Kéc và chấm dứt tại núi Tô, trong địa phận hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên (thuộc tỉnh An Giang ngày nay). Đó là một khu vực rộng mà tiền nhân đã ca ngợi:

“Trước ba sông thêm rạng chí tang bồng

Sau bảy núi chẳng nao lòng tuấn kiệt”

Học giả Nguyễn Văn Hầu phác họa khung cảnh Thất Sơn vào lúc bấy giờ trong tác phẩm Nửa tháng trong miền Thất Sơn như sau: “Xa xa một vài sóc Thổ (1) mà mỗi sóc thì đâu lối năm bảy mái tranh, còn bao nhiêu là rừng. Cọp beo, rắn độc cùng với những muỗi mòng, con ve, con vắt cùng nhau ngự trị một giang sơn riêng. Vậy mà có người vận động quần chúng vào đây để khai hoang lập ấp”. Đó là Phật Thầy Tây An.

Phật Thầy Tây An (4) chính danh là Đoàn Minh Huyên, sinh năm Đinh Mão (1807) ở làng Tòng Sơn, tổng An Thạnh Thượng, tỉnh Sa Đéc.

Sau thời gian hành thiện, bị Pháp bắt, không phát hiện “tội” gì nên chúng tha, ngài tìm đến núi Sam tu trong ngôi chùa của phái Lâm Tế. Đó là Tây An cổ tự ngày nay. Tại ngôi chùa này, ngài khai hoang mở trại ruộng cho bổn đạo vừa canh tác vừa tu tập vừa là cơ sở chống Pháp.

Hoạt động năng nổ nhất trong việc mở ruộng lập làng tại mảnh đất này là hai đại đệ tử của Phật Thầy Tây An: cụ Đình Tây (Bùi Văn Tây) và cụ Tăng Chủ (Bùi Văn Thân, cũng gọi Bùi Thiền Sư).

Trong khi cùng dân khai khẩn đất hoang, lập trại bên chân núi Kéc, đã có truyền thuyết về răn cọp dữ giữ yên trại ruộng của Bùi Thiền Sư.

Ông Tăng Chủ là một người hình vóc to lớn dị thường, miệng rộng, tai dài, hai bàn tay buông thõng phủ gối, tay chân đầy lông, tiếng nói vang vang như sấm động nhưng tâm tính là một con người thuần hậu. Đặc biệt, ông là một người võ nghệ cao cường. Nguyễn Văn Hầu kể chuyện Bùi Thiền Sư với cọp trong tác phẩm Nửa tháng trong miền Thất Sơn, như sau:

“Một lần cọp về xóm vào chập tối, người ta rút lên trên gác đóng cửa kín mít, đánh mõ tre báo động vang trời. Ông Tăng một mình cầm mác thong (2) trèo xuống thang rượt cọp. Dưới ánh trăng mờ, cọp nhào tới phủ lên mình ông Tăng. Ông lẹ làng ngồi xuống, một tay dựng đứng mác thong lên, một tay thủ thế chờ cọp rơi xuống. Cọp hoảng hốt khi gặp tọa bộ của ông Tăng cùng ánh sáng lấp lánh của ngọn mác thong, liền né sang một bên. Trong lúc cọp mất thăng bằng chao mình trên lưng chừng, thì ông Tăng đấm lẹ vào hông nó một quả đấm thôi sơn và thuận chân bồi thêm vào hạ bộ nó một miếng đá nặng đòn. Cọp rống lên một tiếng vang rừng rồi ngã lăn bất tỉnh.

Ông Tăng không giết cọp, bước tới vực nó dậy, miệng lẩm bẩm:

– Tao tha cho, từ nay phải bỏ tánh ngang tàng, đừng tới đây nữa mà mất mạng!

Cọp gằm mặt xuống đất, kéo la lết cái chân què vào rừng và từ đó không dám bén mảng đến xóm nữa”.

Chuyện đánh cọp và thu phục cọp của Tăng Chủ đâu chỉ một lần, mà cả năm ba lần. Vì vậy mà những khi thấy bóng dáng ông thì chúa sơn lâm đều lủi nhanh, chạy thục mạng vào rừng sâu. Điều đáng quan tâm là những khi bị tai nạn như sập bẫy hoặc đau bệnh gì đó, bọn ác thú này cũng đều tìm đến ông để được chữa trị. Nguyễn Văn Hầu kể tiếp chuyện ông Tăng Chủ trong quyển sách nêu trên:

“Ở tại đình Xuân Sơn, một hôm ông Tăng đi thăm ruộng về thì trời đã tối. Khi đến gần cửa, ông trông thấy bóng một con cọp nằm lù lù bên mé đường mòn. Thấy ông, nó đứng dậy há miệng, quào cổ rồi cúi đầu tỏ vẻ đau đớn lắm.

Ông Tăng hiểu ý nó, bảo:

– Mắc xương rồi đó chớ gì! Sao không tới đây sớm tao cứu cho mà để đến nỗi ốm o quá vậy? Thôi, nếu quả mắc xương thì ngay cổ ra.

Cọp riu ríu vâng lời. Ông Tăng co tay ấn vào cổ nó một cái. Lập tức nó sặc lên mấy tiếng rồi khạc ra một thỏi xương lớn.

Vài hôm sau, cọp cõng tới trước sân trại ruộng ông Tăng một con heo rừng vừa vật chết để đền ơn cứu mạng”.

Thất Sơn còn là nơi khai phát đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Bửu Sơn hay Bảo Sơn là hai tên gọi khác của miền đất biên thùy này. Vì vậy Bửu Sơn Kỳ Hương có nghĩa là mùi thơm quý lạ giữa núi báu.

Đạo này do cụ Ngô Lợi (Ngô Viện, Ngô Tư Lợi) sáng lập. Vì giữ “tứ ân”, trọng “hiếu nghĩa” là: ơn tổ tiên cha mẹ, ơn đất nước, ơn tam bảo, ơn đồng bào và nhân loại nên còn gọi là đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Ngoài tu tập, đạo này còn là một phong trào nghĩa quân kháng Pháp.

Về cụ Ngô Lợi (5), có một vài chi tiết liên quan tới cọp như cụ sinh năm Canh Dần (1830) (tại Dội, gần biên giới Việt Nam – Campuchia). Cụ Ngô Lợi liên lạc với cụ Quản cơ Trần Văn Thành – một đại đệ tử của Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên và là một lãnh tụ kháng Pháp. Vì vậy mà nhà cầm quyền thực dân bí mật theo dõi, tìm bắt nhưng không hoàn thành kế hoạch.

Là vị khai sáng đạo Bửu Sơn Kỳ Hương nên khi cụ Ngô Lợi viên tịch (vào năm Canh Dần, 1890) trong lúc không đau ốm gì, được bổn đạo suy tôn là Đức Bổn Sư. Tương truyền, di hài cụ được một mãnh hổ cõng vào giấu trong một hang núi, đặc biệt xác không có mùi hôi thối, chỉ dần khô lại.

Đó chỉ là một vài chuyện của vô vàn chuyện về Thất Sơn huyền bí.

(1) Thổ: Tên gọi đồng bào Khmer Nam Bộ lúc bấy giờ.

(2) Mác thong: Loại mác cán dài bằng tầm vông.

(3) Pierre Gourou sanh ngày 31.8.1900 và mất ngày 13.5.1999 là một nhà địa lý, học giả Pháp. Ông đã nhận được Huân chương Người bảo trợ từ Hiệp hội Địa lý Hoàng gia vào năm 1984..

[PS] Huy chương Vàng của Hiệp hội Địa lý Hoàng gia bao gồm hai giải thưởng riêng biệt: Huân chương của Người sáng lập từ năm 1830 và Huân chương của Người bảo trợ từ năm 1838.

Kể từ năm 1832, các huy chương và giải thưởng quốc tế danh giá của Hiệp hội Địa lý Hoàng gia được trao, công nhận sự xuất sắc trong nghiên cứu địa lý và điều tra thực địa, giảng dạy và khám phá.

Giải thưởng có nguồn gốc như một món quà hàng năm từ Vua William IV, thực hiện lần đầu tiên vào năm 1831, “để tạo thành một khoản phí bảo hiểm cho việc khuyến khích và thúc đẩy khoa học địa lý và khám phá.” Năm 1839, Hiệp hội Địa lý Hoàng gia đã quyết định đổi giải thưởng tiền tệ này thành hai huy chương vàng. Trước năm 1902, Huân chương của Người bảo trợ còn được gọi là “Huân chương Victoria”. [PS]

(4) Đoàn Minh Huyên (14 tháng 11 năm 1807 – 10 tháng 9 năm 1856), hay Đoàn Văn Huyên, quý danh là Lê Hướng Thiện, đạo hiệu: Giác Linh, được tín đồ gọi tôn kính là Phật Thầy Tây An. Ngoài vai trò là người sáng lập giáo phái (Bửu Sơn Kỳ Hương) bản địa đầu tiên ở An Giang, ông còn là một nhà yêu nước, nhà dinh điền đã có công khai hoang nhiều vùng đất ở Nam Bộ (Việt Nam). Ông là người ở vùng Cái Tàu Thượng, thuộc làng Tòng Sơn, tổng An Thạnh, huyện Vĩnh An, phủ Tân Thành, tỉnh An Giang; đến thời Pháp thuộc đổi thành làng Tòng Sơn và sau đó là làng Mỹ An Hưng thuộc tổng An Thạnh Thượng, quận Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc xã Mỹ An Hưng A, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp).

Phật Thầy Tây An viên tịch ngày 10 tháng 9 năm 1856, lúc 49 tuổi. Hiện mộ ông ở phía sau chùa Tây An (Châu Đốc), không đấp nấm theo lời căn dặn của ông. Ông có nhiều đệ tử giỏi, như Đức Cố Quản (Trần Văn Thành), Tăng Chủ (Bùi Đình Thân), Đạo Xuyến (Nguyễn Văn Xuyến), Đạo Lập (Phạm Thái Chung), Đạo Thắng (Nguyễn Văn Thắng), v.v…

(5) Ngô Lợi, sanh năm 1830 (1831) -1890, tên thật là Ngô Viện, tên khác Ngô Tự Lợi, được người trong đạo gọi tôn là Đức Bản Sư hay Ông Năm Thiếp, là Giáo chủ đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa (gọi tắt là đạo Hiếu Nghĩa), ông cũng được xem là lần chuyển kiếp thứ 3 của Phật Thầy Tây An và là lãnh tụ phong trào kháng Pháp tại miền Nam Việt Nam vào cuối thế kỷ 19. Ông là người ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Cha tên là Ngô Nhàn (? – 1837), làm nghề thợ mộc; mẹ tên Phạm Thị Xuyến, là người Bình An, tỉnh Định Tường (nay là tỉnh Tiền Giang).

nguồn Phật Tử Việt Nam

About motthoi6673pctdn

nơi gặp gỡ của các chs nk 6673 pctdn và thân hữu
Bài này đã được đăng trong Xuân. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s