Kiến thức: Tâm hồn và cử chỉ đẹp … (phụ chú) (Duy Nhân st, biên soạn)

(1): Marburg và viện đại học Philips nổi tiếng

Marburg là thủ phủ của huyện Marburg-Biedenkopf ở phía tây bang Hessen, Đức quốc. Thành phố này có 76.850 dân [2019], lớn hàng thứ 8 ở bang Hessen, và là một trong 4 thành phố đại học lớn của Đức, nơi có viện đại học Philipps Marburg nổi tiếng và là trường đại học Tin Lành lâu đời nhất trên thế giới với 16 khoa và 22.000 sinh viên cùng 7.500 nhân viên. Viện Đại học này do Bá tước Philip I của Hesse thành lập vào năm 1527.

[Bá tước Philip I, người thuộc Đế chế La Mã Thần thánh vùng Hesse (13 tháng 11 năm 1504 – 31 tháng 3 năm 1567), là người đấu tranh cho cuộc Cải cách đạo Tin Lành và là một trong những người quan trọng nhất trong các nhà cai trị Tin Lành ban đầu ở Đức].

Marburg cũng được biết đến với các nhà thờ thời trung cổ, đặc biệt là nhà thờ Thánh Elisabeth, một trong ba hoặc bốn nhà thờ được xây cất theo kiến trúc Gô-tích thuần túy đầu tiên ở phía bắc dãy Alps bên ngoài nước Pháp, với lâu đài xinh đẹp và khu phố cổ được bảo tồn tốt.

Kiến trúc Gô-tích (vòm tháp nhọn và nhiều cửa sổ kích thước lớn) là một phong cách kiến trúc bắt đầu phát triển từ nửa sau thời Trung cổ ở Tây Âu (khoảng từ năm 1200) và thịnh hành cho đến tận nay. Kiến trúc Gô-tích ra đời sau thời kỳ kiến trúc Romanesque với vòm cung tròn, và cửa sổ nhỏ.

Nhà thờ được xây dựng bởi Dòng Hiệp sĩ Teutonic để tôn vinh Thánh Elizabeth (2) của Hung Gia Lợi (Hungary). Bà là công chúa góa bụa của xứ Thuringia, Hung Gia Lợi, sanh ngày 7.7.1207 và mất ngày 17.11.1231).

(2): nhà thờ Thánh Elisabeth ở Marburg, Đức quốc

stitched with hugin

Elisabeth là Công chúa nước Hung Gia Lợi (Hungary). Theo truyền thuyết thì cô đã được sinh ra trong lâu đài Sárospatak, nước Hungary vào ngày 7 tháng 7 năm 1207 nhưng theo một giả thuyết khác thì cô được sinh ra tại vùng Pressburg, vương quốc Hungary (ngày nay là Bratislava, Slovakia), nơi cô từng sống trong lâu đài Posonium cho đến khi bốn tuổi.

Cô là con gái của Andrew II xứ Hungary và Gertrude xứ Merania, khi lên bốn tuổi cô được đưa đến lãnh địa của thế lực Thuringia ở miền trung nước Đức để trở thành một cô dâu tương lai (vợ của hoàng tử Ludwig hay Louis 11 tuổi, con của Đế chế La Mã miền Thuringia) trong một cuộc hôn nhân có phần mang màu sắc chính trị, từ đó cô sinh sống và lớn lên tại cung điện Thuringia.

Càng lớn công chúa Elisabeth càng có tính tình và lối sống khác hẳn với giới quý tộc, và các công chúa khác trong cung điện. Cô không khoác lên mình những trang phục quý báu mà thích ăn mặc giản dị, hiền hậu và trang điểm diêm dúa, bình dân. Mặt khác cô lại luôn quan tâm chăm sóc đến những người hầu, kẻ hạ, những người nghèo khó, khổ cực… điều này khiến Công chúa Sophia, mẹ của Luis tức mẹ chồng của cô hoàn toàn không hài lòng. Cô và Luis kết hôn khi cô 14 tuổi và Luis 20 tuổi, năm sau họ có con đầu lòng và 2 năm sau nữa sinh con thứ hai.

Cuộc sống hàng ngày của cô diễn ra bình lặng gồm cầu nguyện, làm việc bác ái, cùng với các phụ nữ khác dệt len cho người nghèo, chăm lo cho người bị bệnh. Rảo quanh các làng quê phân phát các đồ cứu trợ khi xảy ra các trận lũ lụt, dịch bệnh và hạn hán.

Sau sáu năm thành hôn, lúc này lịch sử châu Âu có nhiều biến động, chiến tranh Thập Tự chinh diễn ra, chồng cô Luis phải ra trận vì danh dự. Lúc này cô ở nhà nhưng vẫn nhiệt thành giúp đỡ người nghèo, những người gặp khó do hoàn cảnh chiến tranh xô đẩy. Cô tiếp tục phân phát lúa mì dự trữ, và thậm chí còn bán cả nữ trang và đá quý của cá nhân mình để xây cất những nhà thương lo cho người bị bệnh.

Lúc cô sinh người con thứ ba, năm 1227 cũng là lúc chồng cô Luis đang tham gia đoàn quân Thập Tự chinh bị thiệt mạng. Sau khi chồng mất, cô bị gia đình nhà chồng lúc này đối xử tệ và thậm chí trục xuất cô khỏi cung điện vì họ coi cô là người hoang phí tiền bạc của hoàng gia. Cô từ nay sống một cuộc sống cơ cực và tạm bợ tại các tu viện, mặc dù cô không hề oán trách và coi đây như là một sự thử thách theo cách tu của cô. Tuy nhiên sau cuộc Thập Tự chinh, những người tùy tùng bên chồng cô trở về đã phục hồi quyền lợi cho cô vì con trai của cô phải là người thừa kế chính thức. Nhưng mọi chuyện không dễ, vì quyền lực đã thuộc về người chủ mới của xứ Thuringia, Hung Gia Lợi là Henrik, người em trai của chồng cô.

Cô góa bụa ở tuổi 20, với 3 người con và bị đối xử tệ, phải rời khỏi cung điện Thuringia nên năm 1228, cô đến Marburg và chọn nơi này làm nơi định cư mới của mình. Ở tuổi này – 21 tuổi, cô đã từ bỏ tài sản giàu có của mình, đem chia và giúp đỡ những người nghèo khó, đầu tư xây dựng các nhà thương, trạm xá để giúp đỡ những người nghèo khổ, cơ cực không có tiền thuốc men.

Vào năm 1229, cô gia nhập dòng tu Phanxicô, và nguyện tiếp tục hiến dâng quãng đời còn lại của mình để chăm sóc người nghèo và bị bệnh trong một nhà thương do cô thiết lập để vinh danh Thánh Phanxicô. Vì thể trạng yếu đuối và phải lao động nhiều nên sức khỏe của cô ngày càng sa sút, sau cùng cô mất vào ngày 17 tháng 11 năm 1231 khi chỉ mới 24 tuổi.

Với những hành động cao cả đó, cô đã trở thành một biểu tượng của tổ chức từ thiện Thiên Chúa giáo ở Đức và những nơi khác sau khi cô qua đời. Dù được sinh ra trong một gia đình quyền quý sang trọng nhưng thay vì chọn một đời sống xa hoa nhàn hạ, cô lại tự nguyện đi theo con đường khổ hạnh và hãm mình (tự hành xác) điều đó đã khiến người dân châu Âu cảm mến sâu xa.

Bốn năm sau khi cô mất, năm 1235, Đức Giáo hoàng La Mã Gregoriô IX đã tôn phong cô lên bậc hiển thánh, một trong những nữ thánh nổi bật nhất thời đại. Sắc lệnh này của Đức Giáo hoàng vẫn được trưng bày trong bảo tàng Schatzkammer Deutschordenskirche ở Viên, Áo. Thi thể của cô được đặt trong một quan tài bằng vàng rất lộng lẫy ở đền thờ và nó vẫn còn để được trưng bày cho công chúng thấy cho đến ngày hôm nay trong Giáo hội Elisabeth ở Marburg.

Nhà thờ mang tên Thánh của cô được khởi công xây dựng bắt đầu từ năm 1235, năm cô được phong thánh và được thánh hiến vào năm 1283. Tuy nhiên, các ngọn tháp vẫn chưa được hoàn thành cho đến năm 1340. Nhà thờ là tài sản của Dòng Hiệp sĩ Teutonic; một số tòa nhà của Dòng vẫn còn tồn tại gần nhà thờ, trong số đó có Deutschhausgut, hiện là nơi lưu giữ bộ sưu tập khoáng sản và khoa địa lý của Đại học Philips of Marburg. Ngôi mộ của cô tại nhà thờ này trở thành một điểm đến hành hương quan trọng trong cuối thời Trung cổ.

Cho đến thế kỷ 16, và trong bối cảnh của cuộc Cải cách, Đế chế Philip I muốn ngăn chặn những người hành hương từ thành phố Marburg theo đạo Tin lành nên đã di dời hài cốt của thánh Elisabeth tại đây. Ngày nay, di tích của thánh Elisabeth có thể được tìm thấy trong Tu viện Thánh Elisabeth ở Vienna (Áo), ở Kosice (Slovakia) và tượng Thánh Elisabeth ở Bảo tàng Lịch sử ở thủ đô Stockholm, Thụy Điển.

[Tượng Thánh Elisabeth ở Bảo tàng Lịch sử ở thủ đô Stockholm, Thụy Điển, là một cổ vật, một ngôi đền bằng vàng và được trang sức được cho là có chứa đầu của cô. Tượng đã bị quân đội Thụy Điển thu lấy làm chiến lợi phẩm từ pháo đài Marienberg ở Würzburg thuộc nước Đức ngày nay trong Chiến tranh Ba mươi năm từ năm 1618 tới 1648. Nó bao gồm một số phần khác nhau từ các khoảng thời gian khác nhau. Phần cổ nhất là một chiếc bát mã não được làm từ thời Hậu Cổ đại, vào khoảng giữa thế kỷ 4 và 7 sau Công nguyên. Các bộ phận khác được làm trong thế kỷ 11, và phần đế của đền thờ cũng như các bộ phận của hai vương miện hoàng gia được gắn vào nó có niên đại từ thế kỷ 13].

Hầu hết các hiệp sĩ, giáo sĩ gắn bó với dòng tu và nhà thờ Thánh Elisabeth đã chuyển sang đạo Tin lành trong thế kỷ 16, và từ đó nhà thờ được sử dụng cho các dịch vụ, thánh lễ của Tin lành. Trong một thời gian ngắn vào đầu thế kỷ 19, cả thánh lễ Công giáo và các dịch vụ rước lễ theo đạo Tin lành đều được cử hành trong các khu vực riêng biệt của nhà thờ.

Sau Thế chiến thứ hai, cựu tổng thống Đức Paul von Hindenburg và vợ được chôn cất tại Nhà thờ Elisabeth, sau khi di dời hài cốt của họ khỏi một mỏ muối, nơi họ được cất giấu theo lệnh của con trai Oskar von Hindenburg để bảo vệ họ khỏi bị Lực lượng Liên Xô chiếm phá, nhưng sau đó được tìm thấy bởi Quân đội Hoa Kỳ, và cuối cùng được đưa vào yên nghỉ trong nhà thờ có từ thế kỷ 13 này.

Nhà thờ Thánh Elisabeth ở Marburg là một trong những nhà thờ thuần túy Gothic sớm nhất ở các khu vực nói tiếng Đức, và được coi là hình mẫu cho kiến ​​trúc của Nhà thờ Cologne. Nó được xây dựng từ đá sa thạch trong một bố cục hình chữ thập. Gian giữa và các lối đi bên sườn của nó có trần hình vòm cao hơn 20 m (66 ft). Lối đi được ngăn cách với gian giữa bằng một tấm chắn bằng đá. Trong thời gian trước đó, phần phía trước của nhà thờ đã được dành cho các hiệp sĩ của Dòng. Nhà thờ có hai tháp với chiều cao xấp xỉ 80 m (263 ft). Người phía bắc được trao vương miện bởi một ngôi sao, phía nam bởi một hiệp sĩ. Nó từng là nguồn cảm hứng cho Nhà thờ Thánh Paul ở Strasbourg, Pháp quốc.

Duy Nhân (st, biên soạn)

About motthoi6673pctdn

nơi gặp gỡ của các chs nk 6673 pctdn và thân hữu
Bài này đã được đăng trong Đời Sống, Xã Hội. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s